NHÀ TÔI (13)

13-Thư viết cho vợ

bia_nhatoiNhà mình.. Nửa đêm…

Phượng yêu dấu,

Đêm nay, anh cố ý thức thật khuya để khỏi viết cuốn thứ ba trong bộ truyện dài sáu cuốn của anh. Đời anh sẽ chỉ loay hoay ở bộ truyện này. Bởi vì, bộ truyện này anh viết tặng con chúng ta. Bởi vì, khi anh viết bộ truyện này tâm hồn anh không phải là tâm hồn của anh hiện tại, thứ tâm hồn què quặt, xảo trá, thủ đoạn của người sớm bước xuống cuộc đời, sớm biết cuộc đời để sớm ghê tởm cuộc đời. Tâm hồn anh, khi viết truyện tặng con chúng ta là tâm hồn của ngày xưa còn bé. Tâm hồn ấy đã ngập ứ kỷ niệm hoa bướm, trong suốt pha lê. Cho nên, hễ anh viết, ý tưởng từ óc chảy xuống tim chảy ra năm đầu ngón tay anh. Và anh viết rất nắn nót. Viết cả đêm chỉ được ba trang giấy. Như lần khởi sự viết cuốn thứ nhất. Phượng ạ, anh đốt hết nửa gói thuốc lá, uống cạn một chai nước lọc mà vẫn chưa “đẻ” được dòng nào. Thế mới biết thực hiện đúng ý muốn của mình bao giờ cũng khó.

Anh ngó em… Qua tấm màn lan tiêu, em đang thiêm thiếp ngủ. Dạo này em ngủ ngon giấc, ngủ không cần thuốc an thần của anh Đức cho. Em ngủ được nhờ anh. Em nói thế. Nhờ anh đã thật tình với em. Không nói dối em. Không bắt tội em băn khoăn, sầu khổ. Chợt anh nhớ tới một truyện ngắn trong tập truyện “Cái bong bóng lợn” của ông Phan văn Tạo. Truyện ngắn đó là một bức thư của một người chồng viết cho vợ và dán tem đem bỏ vào thùng thư. Anh luôn luôn xúc động sau mỗi lần đọc những truyện viết về gia đình. Đọc truyện ngắn “Hai chị em” của bà Nguyễn thị Vinh anh rơm rớm nước mắt. Nhưng đọc những tiểu thuyết tình ái dang dở, lâm ly, anh không mảy may xúc động. Bởi vậy anh chưa hề viết nổi một cuốn tiểu thuyết ái tình lâm ly nước mắt. Mà chỉ viết chuyện gia đình, truyện con nít tầm thường. Lại viết giản dị, hiền lành và… bình dân! Đến nỗi các nhà phê bình văn học ở đây coi anh như kẻ đi về đường xưa lối cũ để lượm nhặt những cái mảnh sành, mảnh kính chìm lấp dưới lớp cát dầy. Tiểu thuyết của anh không biết mổ xẻ thân phận làm người. Nghĩa là không bầy chân dung của Jean-Paul Sartre, Albert Camus, Nathalie Sarraute, Simone de Beauvoir, André Malraux.. Điều ấy dễ hiểu. Vì anh không đủ chữ Pháp để đọc và thấu hiểu những Sartre, những Camus. Vì anh không thích đọc để chẳng hiểu gì mà cứ toan làm dáng sự hiểu biết của mình. Và, có thể, vì anh kiêu hãnh. Anh không muốn giống những người khác, không muốn làm con trâu nhai lại. Anh rất mừng là, tuy những gì anh đã viết chẳng hay hớm, cao siêu nhưng chúng thuộc của riêng anh, chỉ anh mới có. Anh ví anh như cây dại giữa đồng không mông quạnh. Cây dại ấy chịu đựng nắng cháy mưa tầm mà lớn dần để nở hoa. Hoa không hương sắc. Vẫn là hoa. Cuộc đời anh khởi tự dưới lớp đất khô cằn cỗi hay ủng mục. Không một bóng mát của đại thụ che chở. Bóng mát duy nhất của đời anh là em. Anh giống thứ trái cây chín hoang. Anh hãnh diện ngoảnh mặt nói “Tôi làm lấy đời tôi, chưa là mầm non do ai đào tạo, tôi không thích làm vệ tinh của người nào”.

Cuộc chiến đấu vươn mình thoát khỏi túng quẫn và lãng quên của anh rất âm thầm, vất vả. Em chấp nhận hạnh phúc thật giản dị. Em muốn anh sống đời sống tầm thường miễn là vợ chồng con cái sum họp hạnh phúc. Anh thương em, tội nghiệp em và muốn em có một người chồng không tầm thường. Anh lăn xả vào nghề làm báo để gây chút tiếng tăm. Tiếng tăm trở thành tai tiếng. Anh đã làm khổ em. Do đó mà, mỗi lần đọc những tiểu thuyết viết về hạnh phúc hay tình thương gia đình, anh đã xúc động. Anh muốn bắt chước ông Phan văn Tạo, viết cho em một bức thư nhờ bưu điện chuyển tận tay em. Anh dẹp bàn, viết đây, viết thư cho Trần thị Phượng, người vợ đau khổ tám năm ròng rã của anh.

Phượng yêu dấu,

Chẳng biết bao lần chúng ta cấu xé nhau, hành hạ nhau, dằn vặt nhau. Sống không phải để nhớ những lầm lỗi của nhau. Sống là để tha thứ và thương yêu nhau. Và đừng bao giờ tưởng rằng người mình thương yêu không thương yêu mình. Tưởng tượng như thế, đầu óc rất mệt mỏi và mất ngủ. Sống mà cứ nghi ngờ nhau, không tin cậy nhau thì khổ sở vô cùng. Em đã sống những tháng năm dài đau buồn. Vì mất niềm tin cậy ở anh. Một phần lỗi tại anh thích chạy theo ảo tưởng. Anh giống con chó thả mồi, bắt bóng trong sách “Quốc văn giáo khoa thư” lớp sơ đẳng. Dòng nước đã cuốn hạnh phúc của anh, cuốn theo cả cái bóng hạnh phúc. Một phần lỗi tại em, em không chịu hiểu rằng anh thương yêu em. Anh may mắn hơn con chó của truyện ngụ ngôn. Anh đã nhảy xuống nước, bơi theo dòng mà vồ lại hạnh phúc. Nên, mới có đêm nay, anh được ngồi viết thư cho em.

Chắc em không nghĩ khi em giận anh, em bồng bế con đi khỏi nhà, lòng anh đã rối bời tan nát. Em vin vào cớ không chịu đi tìm em, xin lỗi em và rước em và con về, để kết tội anh coi thường vợ con. Đó là điều không người vợ nào không trách cứ chồng. Anh không chịu tìm em vì anh muốn em xa anh, xa thật lâu và em sẽ nhớ thương gấp bội. Rồi em tự ý tìm về. Em đâu hiểu, những buổi chiều em giận anh đã bỏ đi, anh đã thao thức suốt đêm. Tiếng xe thắng trước cửa nhà mình, tiếng chó sủa là tiếng trái tim của anh đập mạnh. Anh chờ em. Đôi lần, em đã về đúng lúc anh mong đợi. Thường thường là tuyệt vọng. Thì anh lại hồi tưởng kỷ niệm ngày mới yêu nhau.

Anh nhớ cái góc căn nhà em. Cửa sổ nhìn ra sân trường. Chỗ ấy, hình như, chỉ dành riêng cho em và anh. Em đã ngồi đấy. Đợi anh. Hai chúng ta đã ngồi đấy, kề đầu sát nhau, nói thật nhiều chuyện tình yêu. Có những chiều mưa không chịu tạnh, mưa giữ anh ở hoài bên em. Anh yêu những chiều mưa đó. Yêu ghê lắm. Đúng là mưa xanh hạnh phúc. Anh đã hôn em trong khung cảnh thần tiên ấy. Nhưng anh nhớ nhất là những lần nhớ em, anh đã xoay tiền xe đò Sàigòn – Cần Thơ xuống thăm em. Em biết anh “rách” đã mua vé xe đưa cho anh trở về và giả vờ “Em định đi Sàigòn nên mua vé trước, anh xuống thăm em, em không cần đi nữa, em đổi vé mới”. Lại có cả một bức thư đề tên anh và dặn “Lên xe hãy bóc”. Lên xe, anh bóc ra, anh thấy nhiều tấm giấy năm trăm. Em chu đáo quá. Tình của em đối với anh như thế làm sao anh có thể không biết ơn em.

Anh đã nói nhiều, nói không tiếc lời với bất cứ ai. Khốn nạn thay, anh lại không biết nói với em. Anh im lặng đến hững hờ. Đến nỗi em tưởng anh đã quên hết. Nhưng anh đâu có quên. Anh nhớ kỹ. Trí nhớ của anh tốt mà. Ai đối xử với anh tử tế, anh nhớ suốt đời, nhớ từ ngày tháng đến khung cảnh và cử chỉ. Ai đối xử tệ với anh, anh cũng nhớ suốt đời. Em chưa hề đối xử tệ với anh. Nếu em đối xử tệ với anh, anh không nhớ đâu. Anh quên ngay. Vì em là vợ của anh. Em có quyền đối xử tệ. Cái lý của em: Em yêu anh. Anh nhắc sơ sơ vài kỷ niệm cũ để em ngạc nhiên: À, Nguyễn văn Lương chồng của mình vẫn vậy. Nhiều kẻ vừa mở mặt với đời đã vội quên cái quá khứ nghèo đói của họ. Và học đòi đổi nghĩa thay tình. Điều anh rất phục anh là anh dám, bất cứ lúc nào, nói hay cái quá khứ hèn mọn của anh. Quá khứ đó làm anh nên người. Quá khứ đó, em cũng yêu và lấy anh. Và hãnh diện với anh.

Phượng yêu dấu,

Anh đã viết dông dài và làm em hồi hộp. Em hãy bình tĩnh. Đừng có lo. Vì thư này nếu nó bắt em khóc thì những giọt nước mắt, với em, sẽ là những giọt nước mắt sưng sướng, với anh, sẽ là những giọt nước mắt xá tội lỗi. Có thể, anh đã gây nhiều tội lỗi cho đời. Nhưng anh không cầu xin đời xá tội giùm anh. Bởi anh nghĩ đời thật khoan dung dù khắc nghiệt. Đời không vùi dập những kẻ nông nổi mà lòng dạ ngay thẳng, mà khởi nghiệp từ dưới con dốc vật chất như một con sên leo dốc bằng năng lực của nó. Anh đã âm thầm bò trên con dốc cô đơn. Đôi khi anh cũng ồn ào đáng ghét. Song anh biết ghét anh ngay, anh không dám kéo dài sự ồn ào vì sự ồn ào của anh đã gây phiền phức cho nhiều người. Nhất là cho em cho con của chúng ta. Thà không ai biết đến mình để khinh bỉ hay oán ghét mình. Triết lý sống của em giản dị quá. Anh thấy những người bạn tưởng em có cái xuất xứ nghèo hèn như anh, dạy em đủ thứ. Em chỉ mỉm cười. Người ta ngắm chiếc nhẫn kim cương của em không tin rằng đó là kim cương thật. Người ta nhìn chiếc bánh sinh nhật của con, cứ đinh ninh em đặt ở một cái chợ nào giá rẻ nhất! Em chỉ mỉm cười. Có lẽ, nhờ sự ít nói, nhu mì của em mà đời tha thứ cho anh, đời đã không vùi dập anh, đời đã đãi ngộ trên cái tài bé nhỏ của anh. Và, anh chợt thấy đã ngu xuẩn, anh đã phản bội cánh tay đời trìu mến bằng cách cố tình nhấn mạnh ngòi bút cong queo để bôi bác sự hằn học cuộc đời.

Một hôm, nhà thơ của tình yêu, Nguyên Sa, đã rủ anh tới một quán cà phê bên đường, thân mật bảo anh: “Ông cứ viết nhảm mãi, thế nào văn chương nhảm nó cũng vận vào người ông. Truyện ông đang viết không còn là truyện dễ thương nữa”. Sau đó, trên một tạp chí, linh mục Nguyễn Ngọc Lan cũng âu yếm khuyên nhủ anh chẳng nên “ngủ sầu trong đất”…

Đó, em biết chưa, đời thương anh dường ấy, đời tỏa bóng mát che nắng cho anh đi, đời kéo anh trở về lối ngay mỗi lần anh sắp bước xuống hố. Ôi, còn bao nhiêu bạn bè, bao nhiêu độc giả đã mắng mỏ anh, đã khích lệ anh. Chỉ vì muốn anh không sa rớt vực thẳm của quên lãng. Thế mà anh nỡ chửi đời thì anh chó má quá. Phải tạ tội với đời. Phải quỳ xuống đất, lòng sạch như giấy trắng học trò, hồn thơm như hồn niên thiếu vái lạy đời. Hỡi bằng hữu thân sơ, hỡi độc giả, hỡi những người đã ghét bỏ tôi, hỡi những người đã thương yêu tôi ơi! Cho phép tôi được nói một lần duy nhất của đời: Xin cám ơn và tạ tội tất cả.

Và riêng em, Phượng yêu dấu, anh còn phải tạ tội em nhiều lần. Bởi vì “Gái thương chồng đang đông buổi chợ, Trai thương vợ nắng quái chiều hôm”. Khi anh biết anh làm em khổ, những vạt nắng chiều vàng vọt đã phủ nhuộm hạnh phúc của vợ chồng mình. Anh thích một câu nhạc cuối cùng trong bài “Tôi ru em ngủ” của Trịnh Công Sơn:

Tôi ru em ngủ
Hạ cũng vừa sang
Em hôn lên tay mình
Để chua xót tình trần

Em có chua xót tình trần không Phượng? Anh nghĩ rằng đã nhiều đêm em hôn lên tay mình, nghe nước mắt nhỏ giọt nóng xuống da thịt mà chua xót tình trần, kể từ ngày em dại dột lấy anh. Đúng thế không, Phượng? Phượng yêu dấu của anh? Em đã chua xót khi thấy con mình lớn dần để biết dần những chuyện lục đục của bố mẹ chúng. Lúc chúng ta to tiếng thằng Tí bịt tai, đi lên gác nằm khóc. Con Ki sợ xanh mặt. Thằng Đốm đang ăn vòi, bỗng nín thinh, nằm quay mặt vô tường. Thật đau xót khi nghe thằng nhãi sáu tuổi trả lời “Lớn lên con không lấy vợ, lấy vợ cứ cãi lộn hoài như bố mẹ ấy” câu hỏi của bố “Lớn lên Tí có lấy vợ không”!

Phượng yêu dấu,

Anh đã coi trộm nhật ký của em. Em ghi không thiếu sót một chi tiết nào tám năm làm vợ anh. Những dòng chữ đen thui, ngoằng ngoèo, lên dốc xuống đồi chứng tỏ lúc em ghi, tay em run rẩy vì giận, vì tủi thân. Mỗi trang mỗi nhòe nước mắt. Nước mắt em rơi trên trang giấy hòa với mực kéo dài nỗi đau đớn ê chè. Lương Khoán đã hành tội em. Em thù ghét Lương Khoán. Em không cần biết có Lương Khoán đã đi cạnh đời em. Em chỉ biết Nguyễn văn Lương. Nhưng Nguyễn văn Lương đã mất linh hồn. Linh hồn hắn nhập vào cái ảo ảnh Lương Khoán. Anh chợt tỉnh ngộ. Người ta sinh ra đời, làm bất cứ một công việc gì cũng chỉ nhằm mưu cầu hạnh phúc.

Mưu cầu hạnh phúc cho mình, cho vợ con mình rồi, cao cả hơn, sẽ mưu cầu hạnh phúc cho người khác. Trừ những vĩ nhân như Phật Thích Ca, Chúa Ki tô… mới dám gạt hạnh phúc nhỏ mọn của mình để mưu cầu hạnh phúc cho nhân loại đắm đuối trong bể khổ trần ai. Anh đã nắm trong tay hạnh phúc. Vậy mà anh lại buông nó rớt xuống nước khi tưởng cái bóng hạnh phúc dưới nước mới là hạnh phúc. Nhiều người chồng trên cõi đời này đã tưởng như anh tưởng. Và họ bỏ vợ con bê tha, đuổi theo bóng hạnh phúc. Để, cuối cùng, sống như những con chó hoang lủi thủi.

Anh đã viết ở trên. Là, anh nhảy xuống dòng nước cuốn, đuổi kịp hạnh phúc, nắm chặt lấy nó, lôi lên bờ. Hạnh phúc lạnh lẽo. Anh hong lửa sấy hạnh phúc. Hạnh phúc sẽ ấm, sẽ nóng bỏng, sẽ nồng nàn. Nó đã nóng bỏng, nồng nàn. Môi em thôi tái. Mắt em thôi thăm thẳm u sầu. Em đã biết cười. Em đã dám lo nghĩ tương lai cho con cái. Con ma ám ảnh, thật sự bị tình yêu tiêu diệt. Chúa đã đoái thương em. Phật đã độ trì anh. Cuộc đời đã giúp đỡ vợ chồng mình. Anh muốn, như những người bạn thân của chúng ta muốn, ngày gần đây, chúng ta làm lại đám cưới. Anh sẽ in thiệp báo tin lung tung. Sẽ có tiệc cưới, ở nhà hàng. Em mặc áo cô dâu. Anh sắm vai chú rể. Có phù dâu, phù rể nữa. Bạn bè và cả con cái mình sẽ chúc mình trăm năm hạnh phúc. Như vậy, hơi khôi hài. Nhưng sợ gì nhỉ? Chúng ta chỉ cần yêu đương nhau suốt đời. Ta sẽ có một đêm tân hôn tuyệt diệu, một tuần trăng mật ngọt ngào ở Đà Lạt, ở Nha Trang, ở Huế hay bất cứ nơi nào trên thế giới em thích và anh đủ hoàn cảnh. Truyện chúng mình, do đó, còn dài, dài bằng hai đời người cộng chung hai lần hưởng hạnh phúc. Thôi, anh không viết nữa. Trong giấc ngủ, chắc em đang mơ gối đầu trên tay anh, nói đủ để anh nghe “Lương, em yêu anh, em yêu cả Lương Khoán. Từ nay, trên trang đầu của mỗi cuốn tiểu thuyết, anh nhớ đề Lương Khoán Nguyễn văn Lương, anh nhé!”

Ngủ đi em, ngủ đi Phượng! Ngủ đi với giấc mộng tân hôn đêm nào đó. Đã đủ mùa thương đau cho trái sầu rụng rơi khỏi cây đời em rồi đấy, Phượng ạ!

duyenanh_sign2DUYÊN ANH VŨ MỘNG LONG
(Viết xong tại Phú Nhuận ngày 3-10-69)

12- Xâm phạm thỏa ước

Sau mỗi trận đả lôi đài, chúng tôi thường “nhìn nhau mà chẳng nói” hàng tuần lễ, Nếu tôi giở chứng, bỏ nhà đi “tiếu ngạo giang hồ” vài hôm, tình thế sẽ bi đát không sao diễn tả nổi. Nhà tôi phải vận động nhiều áp lực tình thương để bắt tôi lê gót phong trần trở về mái nhà xưa.

– A lô, bác cho cháu nói với bố cháu là Lương Khoán ạ!

– Bố đây.

– Bố đấy hả? Tí đây. Bố không đưa con đi học à? Con nghỉ học con dốt thầy phạt con thì sao?

– Bảo mẹ dắt đi.

– Mẹ đau bố à… Em Ki sưng răng, em Đốm mọc mụn.

– Mẹ xúi con nói thế hả?

– Không… Con “cúp-pê” nghe bố.

Tôi biết là nhà tôi đã ngồi cạnh máy điện thoại, “gà” thằng cu Tí bằng… tay. Biết mà lòng tôi vẫn nao nao. Nhỡ con tôi đau, vợ tôi ốm thì khổ quá. Tôi cần “găng”, cần “làm già”. Tôi đã không về.

– A lô, thưa ông, phiền ông cho nói chuyện với ông Lương Khoán.

– Tôi đây ạ!

– Ân đây, anh Lương ơi! Chị vừa gọi dây nói cho tôi. Chị khóc quá và chị mệt xỉu. Tôi đã tới chích cho chị vài mũi thuốc rồi. Chị không có bệnh gì cả, anh cứ về là chị khỏe liền. Tôi biết làm phiền anh nhưng xin anh thương chị, thương các cháu, anh về đi…

– Vâng, cám ơn anh, tôi sẽ về.

– Anh đừng cho chị biết là tôi gọi dây nói cho anh nhé! Tội nghiệp chị, đàn bà hay nghĩ luẩn quẩn nên chị đã làm phiền anh. Anh phải về nhà thì chị mới khỏe. Không có thuốc gì làm chị tỉnh bằng sự có mặt của anh ở nhà…

Người bạn thầy thuốc của tôi đặt ống nói xuống máy. Tiếng “keng” nhỏ khô khan, gãy vụn. Tôi vẫn áp ống nghe sát tai. Bàng hoàng. Tự nhiên, tôi quên hết nỗi giận. Tôi nhận hết lỗi. Và tôi chợt nhớ câu nói của nhà tôi: “Không có anh nằm cạnh, em ngủ không được, Em sợ hãi”. Những đêm tôi vắng nhà Phượng thường bắt đứa con gái ngủ chung. Để giật mình thức giấc, ôm chặt lấy con cho bớt sợ. Phượng hay nói với tôi, những lúc tôi hòa thuận “Chưa lấy anh, em ngủ một mình. Ngủ chung với con Yên em cũng không chịu nổi. Lấy anh, em sợ ngủ một mình. Đấy em cần anh thế đấy, anh đừng bỏ em. Giận nhau cách mấy, anh đi chơi hết ngày rồi tối trở về nhà, anh nhé!” Tôi chợt nhớ và bỏ việc đang làm, phóng xe về nhà.

Cảnh tượng thật não lòng. Ba đứa con quần áo lem luốc, mặt mũi bơ phờ, ngồi dưới đất ăn cơm với chả lụa. Khi bố mẹ cãi nhau, con cái ăn cơm nguội và không được tắm rửa. Con tôi đã bỏ cơm, reo hò ầm ỹ. Những đôi mắt non dại rực sáng như những vì sao sau nhiều đêm mưa. Thằng Tí khoe:

– Mấy hôm nay con nghỉ học, bố à… Bố dạy con làm toán đố không mai đi học con bị thầy la. Bố ơi, con tắm cho em Ki.

Con Ki mách :

– Anh Tí đánh con.

Thằng Đốm hả miệng :

– Con sưng răng đày nè… Bố có đi nữa không?

Con Ki, chắc được mẹ dạy, hỏi bố :

– Bố ngủ ở nhà “con đĩ” nào hở, bố? Bố thương “con đĩ” nào hở, bố?

Tôi gượng cười :

– Mày nói láo đó.

Con Ki mếu máo :

– Bố không thương con.

Tôi ôm lấy cả ba đứa nhỏ :

– Bố thương các con.

Thằng Tí dụi đầu vào lòng bố. Thằng Đốm chùi mép dính cơm và nước mắm vào cánh tay bố. Con Ki khôn hơn anh, nó thủ thỉ :

– Thương mà bố bỏ đi hoài…

Tôi rơm rớm nước mắt, hôn lên má con gái :

– Bố sẽ không đi nữa. Bố sẽ không cãi nhau với mẹ nữa…

Nó níu cổ tôi, ghé sát tai :

– Bố đừng đánh mẹ nữa nhé?

Tôi gật đầu :

– Ừ, bố không đánh mẹ nữa.

Nhà tôi nằm im trong buồng ngủ. Tôi không dám vào thăm hỏi nàng. Công việc của tôi là quét nhà, thu dọn đồ đạc và lau nhà. Sau đó, nấu nước tắm gội, thay quần áo cho con cái. Rồi pha sữa cho bọn lỏi uống, dụ chúng đi ngủ trưa. Tôi âm thầm thanh toán chậu quân áo đầy nhóc, leo lên lầu ba phơi phóng. Nhà cửa quang đãng thì đã bốn giờ chiều. Tôi xách xe lên Tân Định nhặt táo, cam, nho và vài lạng thịt bò. Lại hì hục làm cơm chiều. Tôi “mời” Phượng ra ăn cơm. Nàng ra ngay. Nhưng hai đứa không nhìn nhau. Cơm nước xong, tôi luộc “sơ-ranh” chích cho nàng mũi thuốc “xanh coọc tin”. Nàng để tôi vạch mông lụi kim tiêm. Ba đứa con nô đùa ầm ỹ. Thằng Tí đem cuốn Lucky Luke bắt bố kể tiếp đoạn nhà Billy The Kid át giọng ông già, bà cả bị dang dở mấy hôm. Tôi kể một lúc là “con ông cụ” ngáy khò khò. Ông bố trẻ bèn bế từng quý tử lên giường, buông màn cẩn thận. Số tôi vất vả ở chỗ, luôn luôn, liên tử thôi việc trước ngày… đại chiến. Tắt đèn, tôi vô buồng, khẽ vén màn, leo lên giường. Nhà tôi chắc là chưa ngủ. Chàng ở mép giường bên này, nàng ở mép giường bên kia. Muốn hòa nhau lắm mà… mắc cỡ. Giá tôi đã mua cái giường Hồng Kông nhỉ? Tôi sẽ giả vờ cựa quậy, giả vờ ngủ say lăn xuống chỗ trũng. Và giả vờ ôm lấy nhà tôi thì nhà tôi cũng sẽ giả vờ mà để tôi ôm. Vài câu trách móc qua loa. Rồi tôi, “yêu” nhà tôi. Thế là hòa bình xảy ra.

Cái giường Hồng Kông. Chỉ là một cái giường chế tạo ở Hồng Kông, cái giường sứ-giả-hòa-bình của những cặp vợ chồng ưa cãi cọ, cấu cắn nhau, tại sao tôi đã không cố công mua cho bằng được nhỉ? Vài chục ngàn chứ bao nhiêu. Mua một cái giường để chống nạn đập đồ đạc tốn cả trăm ngàn mỗi trận võ đài lớn, tưởng đã tiện còn lợi nữa. Hai lần sắm máy lạnh, hai lần bán máy lạnh cho… đồng nát. Mấy cái quạt máy. Cả chục cái đồng hồ treo tường. Máy vô tuyến truyền hình bốn phen thay kính và thay đèn. Tủ lạnh sơ sơ mới xài có nhãn hiệu Hitachi rồi National Zet Cycle. May mắn nhất là cái máy giặt. Hung hăng đến năm mươi độ nóng, cả hai vợ chồng đều chùn tay trước máy giặt. Vì rằng đập phá máy giặt, chàng và nàng sẽ vất vả với quần áo dơ. Không dám để đèn bàn. Đèn bàn là nạn nhân đầu tiên, Lương Khoán đã thức đêm viết văn, viết báo hành hạ Trần thị Phượng. Đèn bàn đồng lõa với Lương Khoán. Đập nát. Đập nát để… kiến thiết. Ôi, mỗi bận kiến thiết, đau ruột biết mấy. Phải chi mua được cái giường Hồng Kông.

Gần sáng, tôi giả vờ gác chân lên đùi nhà tôi. Thấy êm. Bèn lấn hai vòng tiến gần địch quân. Và, đặt tay lên ngực địch, vẫn êm. Bèn ôm luôn địch quân như con trăn gió quấn mồi. Nhà tôi vùng vẫy. Vùng vẫy quyết liệt. Người bạn thầy thuốc của tôi đã rất… tâm lý. Có hơi đàn ông, đàn bà mệt lử cò bự bỗng tỉnh táo ngay. Tôi cương quyết đóng phim Rashomon. Nhà tôi chống cự… lấy lệ. Sự việc diễn ra đúng theo ý muốn của Thượng đế. Làm xong cái bổn phận với đấng tạo hóa, tôi nham nhở tán tỉnh :

– Em coi, anh thừa phong độ.

Nhà tôi nói :

– Em không cần cái đó.

Và nàng bắt đầu khóc. Tôi dỗ dành :

– Thôi mà em, anh đã về dàn hòa với em. Anh có lang bạt ở phòng ngủ đâu. Mấy đêm nằm chiếu trải ở nền gạch nhà thằng Minh Vồ cạnh cầu tiêu khổ hơn chó. Nó ngáy như bò rống. Nằm với nó chỉ sợ lây hắc lào. Nó gãi soàn soạt khiếp đảm kinh hồn. Mẹ ơi, con nhà Minh Vồ còn hôi nách nữa. Xuân thu nhị kỳ nó mới tắm gội, người nó hôi hám, toàn mùi chuồng ngựa Phú Thọ.

Nhà tôi vội xoay người, ôm chầm lấy tôi :

– Anh khổ vậy à?

Tôi tả oán :

– Chứ bộ em tưởng anh sung sướng ư? Xẩy nhà ra thất nghiệp. Đi cầu ở nhà thằng Minh Vồ không có giấy chùi. Vợ chồng con cái nó chỉ quen… rửa đít. Giấy chùi đít nó lại cất trong xe hơi để lau tay, lau mặt!

Nhà tôi cười hinh hích. Một lát, nàng phụng phịu :

– Lần này anh bỏ nhà lâu quá.

Tôi nịnh :

– Đi lâu mới nhớ vợ con và khi về thương vợ gấp ngàn lần.

Nàng dụi đầu vào ngực ô-mê-ga của tôi :

– Anh xin lỗi em đi…

Tôi nghĩ thầm “Lại mửng cũ”. Những đành ngượng nghịu nói:

– Ừ, anh xin lỗi em.

– Sao trưa qua về anh không xin lỗi em ngay?

– Anh… anh… xấu hổ!

– Vợ chồng mà anh xấu hổ.

– Vợ chồng mà anh xấu hổ chứ.

Nhà tôi lại khóc :

– Giá anh xin lỗi em ngay sau lúc anh hành hạ em có phải em và con cái đỡ nheo nhóc không?

Tôi ngậm ngùi, ngậm ngùi thật sự :

– Anh có lỗi, anh hứa với em đây là lần cuối cùng.

Nhà tôi thổn thức :

– Bao nhiêu lần anh thề “là lần cuối cùng” rồi. Em coi anh như cái tay vịn để em đi qua cầu. Không có anh, em không ăn được, không ngủ được, không sống được. Em cần anh. Thế mà anh cứ bỏ em vương vất, bê tha.

Câu nói thật dịu dàng tha thiết. Trái hẳn với những câu nói gắt gỏng, cộc cằn khiến vừa nghe tôi đã nổi máu vũ phu thô bạo. Và tôi ứa nước mắt thương Phượng, ít khi tôi khóc. Tôi nhớ, mười lăm năm lưu lạc, tôi chỉ khóc có một lần. Đó là lần từ Ban Mê Thuột về Sàigòn đến nhà người bạn ăn một bữa cơm với canh miến nấu bằng lòng gà chết toi bán ở chợ. Tôi bị đau bụng và nôn mửa. Nửa đêm, tôi thuê xích lô máy lên nhà thương Sàigòn, hy vọng nằm thí một hai ngày. Cô y tá trực chích cho tôi mũi “atropine”, phát vài viên thuốc và bảo tôi về. Năn nỉ cách mấy, cô cũng không cho ngủ tại nhà thương.

Một giờ sáng, tôi đi bộ dọc con đường thênh thang Trần Hưng Đạo để về Chợ Quán. Không đủ tiền đi một cuốc xe đêm. Tôi nghĩ đến mẹ tôi, đến lọ dầu Nhị Thiên Đường nhỏ bé, đến câu dặn dò “con đừng ăn bậy, sẽ bị thổ tả đó” ngày mẹ tôi ra bến xe tiễn chân tôi lên Hà Nội học. “Nếu bị đau bụng, con cứ nuốt vài giọt dầu là khỏi”. Mẹ tôi không có đây, không ai chịu khó nhét vào túi quần tôi lọ dầu Nhị Thiên Đường. Tôi nghĩ về mẹ tôi. Và tôi vừa khóc vừa lầm lũi bước trên đường khuya lạnh lẽo. Lần này, tôi khóc vì thương vợ tôi. Khi vào đời, người ta chỉ có ba lần để khóc. Lần đầu là những giọt nước mắt thương nhớ cha mẹ, anh em. Lần thứ hai là những giọt nước mắt ân hận, tỏ tình thương vợ. Lần thứ ba là những giọt nước mắt thương con cái đã, phen nào đó, để con cái khổ sở, thiếu thốn.

Phượng thấy tôi khóc. Nàng im lặng. Tôi biết Phượng sung sướng lắm. Nàng ôm lấy tôi, hôn tôi. Chúng tôi được uống nước mắt của nhau, được uống nước mắt của tình nghĩa vợ chồng. Tự nhiên, tôi nghĩ rằng tôi sinh ra đời không phải để hằn học, để làm công việc chửi bới lem nhem bằng chữ nghĩa. Một người bạn tôi đã yêu, đã ghét rồi lại yêu, lại ghét, lại yêu đã bảo tôi “Viết lách chửi bới không phải việc của mày. Hãy để cho những thằng bất tài nó múa may”. Tôi cảm giác thấm thía vô cùng. Văn chương sống sượng đã vận vào đời tôi, nó đã phản bội tôi. Vì nó, tôi tưởng đã có quyền coi bàn dân thiên hạ như rác thì cũng coi vợ con như bèo. Không ai dám đụng tới tôi, vợ tôi sức mấy mà dám cãi lời tôi, dám ngăn cản… sự nghiệp viết lách của tôi, dám xâm phạm vào quyền lợi tự do tư tưởng của tôi! Và đã hối hận. Tôi không muốn nhà tôi phải buồn phiền, lo lắng và phải khóc vì tôi. Còn những giọt nước mắt của một đời người, tôi nghĩ, vợ chồng tôi nên để dành khóc tội nghiệp con cái đã hỏng một kỳ thi cử hay thất bại tình duyên hay sa ngã trong trường đời… Phải thế không em, Phượng?

– Em ạ!

– Gì thế anh?

– Lần này anh không còn giống như những lần khác nữa. Anh sẽ soạn thảo một bản hiệp ước sống chung và anh tin tưởng chúng ta sẽ tôn trọng hiệp ước này.

Và bản hiệp ước ra đời gồm từng đây điểm:

VỀ PHÍA TÔI

1) Phải trở về viết báo Mộc Tồn cho linh mục Nguyễn Xây Dựng.
2) Phải vô nhà thờ cùng vợ con, khuôn mặt tươi tỉnh.
3) Phải về ăn cơm nhà và về đúng giờ.
4) Chiều thứ bảy và chủ nhật thuộc về vợ con, không được đi làm hay đi chơi một mình.
5) Gây gổ với vợ xong phải xin lỗi ngay, không được bỏ nhà đi lang bạt kỳ hồ.
6) Không được đập đồ đạc quý giá. Khi nóng giận, muốn đập phá, bắt buộc phải chọn những cái ly rẻ liền mà đập.
7) Phải năng đưa vợ đi ăn, đi xi nê, đi diễu phố kẻo quần áo nó khóc trong tủ.
8) Thỉnh thoảng giở trò “pích ních” xa lộ.
9) Luôn luôn dịu dàng với vợ con. Tuyệt đối không được nói những lời lỗ mãng.
10) Không được đi đánh bạc.

Tôi đưa ra năm điểm. Nhà tôi thêm vào năm điểm và có hai, ba rất chi là một sự khó tôn trọng hiệp ước. Đó là những điểm 2, 3, 6, và 8. Những điểm còn lại, dễ thi hành lắm. Chằng hạn điểm 1. Tôi nhận lời mời nồng nàn của linh mục Nguyên Xây Dựng ngay sau khi ký kết thỏa ước dù trước đó, tôi đã tỏ ra thờ ơ. Và, chính tay tôi đã viết cái “a nông” đăng trên trang nhất nhật báo Mộc Tồn như sau:

Sau những ngày đi hoang, Lương Khoán lại trở về mái nhà Mục Tồn xưa với hành lý nóng bỏng như

CÁT SA MẠC
một tiểu thuyết của tuổi trẻ
một tiểu thuyết tha thiết tình đời và tình người

KHỞI ĐĂNG TỪ NHỮNG SỐ TỚI

Để nịnh vợ, để tạ tội cùng vợ, để cho vợ hiểu rằng tôi ví những ngày làm cho Mùn Sẩu như những ngày đi hoang. Một vài người tưởng tôi đã phải lạy lục linh mục Nguyễn Xây Dựng để được viết ở nhật báo Mộc Tồn. Chắc linh mục Xây Dựng biết chuyện, ngài sẽ thanh minh ầm lên cho mà coi. Nhưng tôi cóc cần thiên hạ, cóc cần thanh minh. Tôi chỉ cần vợ con tôi. Tôi ốm đau ngất ngư thiên hạ có thức đêm săn sóc tôi đâu. Vẫn chỉ có một mình vợ tôi, mặt mày hốc hác vì lo lắng, nằm bên tôi. Và mỗi lần tôi thức giấc là mỗi lần tôi thấy nhà tôi đặt tay lên trán tôi. Ngay cả những hôm giận vợ, phẫn chí đi uống rượu say sưa để về nôn mửa từ cửa vào đến giường, vợ tôi vẫn lo lắng giùm tôi, coi tôi như bị… phải gió, vất vả thay quần áo, lấy khăn nóng lau mặt, nhà tôi xoa dầu khắp mình mẩy tôi, đắp chăn cho tôi nằm rên rồi đi lau chùi, dọn dẹp những đống ói mửa. Chỉ có người vợ mới làm những công việc đó, làm những công việc đó bằng sự rung động tột độ của trái tim. Vì chồng. Người vợ là dòng sông mát phát nguyên tự Tình Thương suốt đời âm thầm chảy róc rách trong tâm hồn chồng. Như một thuyền trưởng chết theo tầu, dòng sông vợ chỉ ngừng luân lưu khi tâm hồn chồng úa héo. Bấy giờ sông còn một nhánh gọi là sông mẹ và đổ xuống những tâm hồn con.

Tôi sinh ra để làm phiền quá nhiều người, nhất là làm phiền vợ con và bạn bè thân thuộc. Tôi ví mình như một con ngựa đi hoang trở về tầu ngựa cũ. Tầu ngựa cũ là mái nhà, nơi vợ con tôi đang sống. Một vài người cứ tưởng tầu ngựa cũ là nhật báo Mộc Tồn. Nếu tôi có quỵ lụy, van xin, người được quỵ lụy, van xin chỉ là vợ con tôi. Tôi hãnh diện nói thế. Nên tôi đã chấp nhận điểm 1 một cách hoan hỉ. Điểm 2 hơi kẹt. Tôi làm dấu rất vụng về, kinh kệ lem nhem, vô nhà thờ để thành tượng gỗ à? Nhưng vợ tôi đã muốn là Chúa đã muốn. Tôi bèn… đồng ý. Rồi thi hành thật nghiêm chỉnh. Tôi đã vô nhà thờ, đã nhìn mắt vợ con tôi long lanh cầu nguyện trước Đức Mẹ và tôi hết dám có những ý nghĩ khôi hài về tôn giáo. Tôi không nói dối đâu, chính nhà tôi đã dẫn tôi đến với Chúa. Điểm 3 được thi hành một cách linh động. Cuối cùng thì nghiêm chỉnh, tuyệt đối. Vì càng nghiêm chỉnh, gia đình càng yên vui. Tôi chợt hiểu tại sao nhà tôi thích ăn cơm nhà. Thứ nhất, nhà tôi thấy tôi bỏ cơm nhà, toàn đi uống rượu và ăn nhảm. Thứ hai, nhà tôi muốn chứng tỏ tài làm bếp. Điểm 6, tôi đã tranh luận với nhà tôi thật gay go. Thí dụ, khi nổi nóng ác ôn là khi con người biến thành thú dữ, mắt hoa lên, tim bị mỡ phủ kín, đâu có thể phân biệt được đồ đạc quý giá và đồ đạc rẻ tiền. Nhà tôi suy nghĩ rất lâu rồi đưa ra một giải pháp tân kỳ. Là, trong buồng nhà tôi kê cái bàn nhỏ, để sẵn mớ quần áo cũ của tôi. Còn phòng ngoài, nhà tôi kê cái bàn, bày sẵn ly tách rẻ tiền. Hễ đụng độ, một phe xé quần áo cũ, một phe đập ly tách rẻ tiền. Giải pháp có vẻ hay ho. Song dùng tới, chắc chắn, không vui tí ti ông cụ nào. Điểm 8, tôi bác bỏ vì thấy nó… thời thượng, nó đua đòi một cách rẻ tiền. Nhà tôi bảo không đua đòi mà chỉ nhằm mục đích bắt tôi có bổn phận với con cái những chiều thứ bảy và chủ nhật. Và, “pích ních” không có nghĩa là khuân bánh mì, vác cả lu nước mắm ra xa lộ, trải chiếu ngồi để toàn gia ăn bánh mì chấm nước mắm! Mười điểm nhà tôi đưa ra, tôi phải chấp nhận hết.

VỀ PHÍA NHÀ TÔI

1) Phải đi chợ, sắm hàng hóa một mình.
2) Không được bắt chồng đi đổi một món hàng mình không vừa ý.
3) Muốn đi chơi xa phải báo trước hai ngày.
4) Cằn nhằn chồng từ mười phút đến bốn mươi phút là hạn chót.
5) Không được đi xem bói, dù chỉ đi ngồi xem thầy bói đoán cho bạn.
6) Phải uống thuốc bổ mỗi ngày.
7) Không được nhắc tới những lỗi lầm đã qua của chồng mỗi khi tức giận.
8) Không được “chém thớt” chồng mỗi khi có việc sửa chữa nhà cửa mà “giận cá” thợ đã làm sai ý mình.
9) Lúc nào cũng phải trang điểm cho đẹp dù là trang điểm xong thì đi rửa bát.
10) Phải cười thật tươi hai lần trong ngày để đón chồng đi làm về.

Nhà tôi đọc xong, không có ý kiến. Nàng mỉm cười và dùng bút đỏ gạch hết. Đàn ông không có quyền ra điều kiện cho vợ khi đã trót bê bối. Nhà tôi muốn cho tôi biết điều ấy. Tôi ngầm hiểu, ở ngoài gia đình, đàn ông có thể làm vua. Nhưng về nhà, đàn ông chỉ là nô lệ của vợ con.

Làm nô lệ cho vợ con là một nghệ thuật, là một lạc thú ở đời. Mãi gần đây tôi mới biết khi muốn phân chất tình một người con gái yêu một người con trai. Ôi, tình yêu đó mới là tình yêu. Người con gái yêu người con trai xa lạ lấy làm chồng, chịu đựng đau khổ, hy sinh xuân sắc để sống mãi với chồng, – đuổi đi nhất định không đi, hay đi rồi lại trở về – coi chồng trên hết, tôi tưởng đó mới là tình yêu. Còn những thứ tình khác như tình phụ tử, tình mẫu tử chỉ là tình thương. Thương vì có liên hệ máu mủ, có bổn phận.

Tôi ao ước được viết nổi một cuốn tiểu thuyết dầy cả nghìn trang để ngợi ca tình yêu trai gái. Chỉ tiếc tôi đã không đủ tài. Và không đủ thì giờ. Vì mưu sinh, tôi phải viết những gì tôi không thích viết. Công việc bất bắc dĩ ấy choán hết tầm mơ mộng của tôi. Cuộc đời đòi hỏi nhiều ở những người viết tiểu thuyết. Nhưng cuộc đời rất đông kên kên mở hiệu cho mướn tiểu thuyết và thuê tiểu thuyết! Nhà văn đã chết lần chết mòn. Mai Thảo, tại sao ông phải viết “phơi-ơ-tông”? Hoàng Hải Thủy, tại sao ông chưa viết nổi cuốn tiểu thuyết nào cho ông? Hoàng Anh Tuấn, tại sao ông cam đành làm thứ quản đốc để họp hành chung với bọn gấu dở hơi? Ông Hoàng Anh Tuấn có thể nói vì ông thương vợ con ông. Tôi kính phục ông. Tôi kính phục tất cả những người đàn ông thương vợ con trên cõi đời này, cả những người đàn ông sợ vợ. Tôi không thể ngửi được những thằng đàn ông bỏ bê vợ con nheo nhóc đi sống với vợ bé hay tình nhân, đó là sự chia chác tình yêu bỉ ổi. Tôi có nhiều lỗi với vợ con nhưng tôi hãnh diện nói rằng, chưa lần nào tôi mơ tưởng lấy vợ bé. Vợ tôi hành hạ tôi, cấm đoán tôi chỉ vì yêu tôi và muốn tôi có trách nhiệm với con cái. Tôi hiểu kỹ điều đó và tôi hoan hỉ chấp thuận mười điểm trong bản thỏa hiệp. Đúng là thứ “hòa ước bất bình đẳng” đã xảy ra trong lịch sử mất nước của Việt Nam.

Thỉnh thoảng, tôi cũng vi phạm thỏa hiệp. Những lần đó kinh hãi vô cùng. Linh mục Nguyễn Xây Dựng đã quá thương vợ chồng con cái tôi, mấy buổi trưa liền, ngài lái xe đến nhà tôi để “hòa giải dân tộc” và “rửa tội” cho tôi. Nhờ linh mục Nguyễn Xây Dựng nên sóng gió dù ghê gớm lắm, vẫn dịu đi. Và, nhà tôi, hễ có việc gì, lại dẫn con cái lên nhà thờ Huyện Sĩ, nhờ linh mục Nguyễn Xây Dựng dùng “hóa công đại pháp” mà giải tỏa hết nỗi bực bội của nhà tôi. Đôi khi, tôi bị oan vì cái sự “tồ tồ” của ông Minh Vồ. Ông Minh Vồ nói chuyện trên giời dưới biển, chuyện ấm ớ hội tề theo sự hiểu biết của ông ta. Nhà tôi bèn tin và rỉa rói tôi kịch liệt. Tôi chỉ còn cách vò đầu mà réo tên Minh Vồ chửi cho đã giận.

Cho tới hôm nay, sau cả ba mươi bảy lần dọa ly thân ly dị, mười bốn lần xé thỏa hiệp và soạn thảo tân thỏa hiệp, vợ chồng tôi bắt đầu sống hạnh phúc như những ngày mới yêu nhau. Vì tôi đã chán nản cuộc sống bên ngoài. Cuộc sống phũ phàng chỉ có những bàn chân đạp mình ngã dúi mà không có những bàn tay níu kéo mình như những bàn tay của vợ con mình. Nhưng, chắc chắn nhất, tôi về yên phận với vợ con vì Chúa đã đoái thương nhà tôi. Đức Mẹ đã nhìn thấy những viên đá “Tạ ơn” chân thành của nhà tôi.

Phượng ạ, hôm nào em cho phép anh mua một viên đá “Tạ ơn Đức Mẹ” nhé!


duyenanh_sign2DUYÊN ANH VŨ MỘNG LONG

(Viết xong tại Phú Nhuận ngày 3-10-69)

<— Mục Lục

 

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s