NHƯ THẾ GỌI LÀ TÌNH YÊU

giaiphamxuanhong1974(Lê Thy đánh máy. Trích từ TUỔI NGỌC: Giai phẩm Xuân Hồng Giáp Dần – 1974)

 Hình như nhà trọ ở đường Phó Đức Chính. Bà chủ chỉ nuôi có vài người học trò. Còn toàn là công nhân nhà máy nước tới dùng cơm trưa và nghỉ trưa chờ giờ đến sở. Nhờ thằng bạn cùng lớp năn nỉ bốn năm bận, bà chủ mới bằng lòng nhận tôi. Tôi đến nhằm ngày chủ nhật vắng hoe. Gia tài của tôi vỏn vẹn cái va li sách vở, quần áo và chiếc xe đạp cũ rích.
Chiếc xe đạp “mốt” của Hà Nội 1953, tôi đã phát mại đánh đu với phồn hoa từ năm ngoái. Tôi nhớ chiếc xe công tử của tôi khung “đuya ra”, kiểu đàn bà. Ghi đông chữ U. Phanh “ma phắc”. Vành “ma vic”. Nan hoa “i nốc xi đáp”. May ơ “pê lít xi ê pờ luym”. Tai hồng “beo”. Trục “xì tờ rông lai” đũa tre xuyên qua được. Pê đan “tăng”. Lốp “mít sơ lanh”. Cái “ru líp” ba tầng để biểu diễn cái “săn giơ vi tét”. Lại thêm cái “pi nhông” phòng hờ nếu “ru líp” đứt râu tôm hay mòn con cá . Thế là nhất, là ngồi trên mơ ước của bao nhiêu cậu trai vừa lớn. Xe đạp của tôi át giọng cả Vélosolex. Phóng qua cổng trường Trưng Vương lúc ra chơi, các em lác mắt, tương tư chàng trẻ tuổi đàng điếm. Nhưng chiếc xe đạp lý tưởng ấy đã bỏ tôi ra đi. Tôi đành tậu chiếc xe cũ. Tôi thấy mình xuống dốc thê thảm. Đang trọ học ở đường Ngô Thời Nhiệm thơ mộng, giờ khăn gói quả mướp dọn lên đường Phó Đức Chính, gần nhà máy nước thành phố. Tôi bèn tự an ủỉ mình rằng nhà trọ mới của mình cách hồ Tây, hồ Trúc Bạch chẳng bao xa. Mình có thể cuốc bộ cho tiêu cơm, mỗi chiều hạ, trên con đường Cổ Ngư. Hoặc mình ngồi bên bờ hồ nghe “đáy hồ reo” làm Hàn Mạc Tử. Bà chủ hỏi lý lịch tôi thật kỹ :

– Ông thân sinh cậu buôn bán hay cầy ruộng ?

– Buôn bấc, bán bông, thưa bà.

– Bà thân sinh cậu đã hóa thành người thiên cổ chưa ?

– Dạ, vẫn sống nhăn răng.

– Cậu được mấy con rồi ?

– Vợ còn chửa có, hỏi chi con. Cháu trai tân, bà ạ.

– Chắc chứ ?

– Chắc như cua gạch Bắc Ninh.

– Thế thì tốt.

Tôi hơi sững sờ. Ăn cơm trọ Hà Nội sắp mòn răng, chả ai thèm nghiến bánh xe điện lên đời tư của tôi, vậy mà bà chủ trọ này lại chơi trò công an ấm ớ. Thằng bạn giải thích :

– Bà chủ đề phòng Sở Khanh. Bà ấy bị mất gà nên rào dậu cẩn thận.

– Đề phòng tất cả à ?

– Đề phòng riêng mày thôi. Tụi tao thành tích tốt, bà chủ tin cậy lắm. Bà ấy sinh được một cặp con gái. Chồng bà ấy “đi tầu suốt”, bà ấy noi gương mụ Phó Đoan và thương con vô kể. Cô lớn bị một thằng ở trọ lơn. Cô ta phải lòng nó, gài một trái mìn vào bụng cô ta. Bà chủ hân hoan gả con gái yêu cho nó, còn hứa tặng nó cửa hàng cơm. Nó sợ quá, cút biến. Bố khỉ nó đã có vợ con dưới quê.

– Rồi cô gái ?

– Bà chủ đem”biếu” thằng thợ sửa xe đạp ! Tội nghiệp bà ấy, thèm con gái lấy chồng học trò thì học trò lại học trò…Sở Khanh. Bà ấy chọn lựa học trò thổi cơm tháng là bởi thế đó. Bà ấy thửa con dao phay chặt đứt sắt, mày muốn thử dao không ?

Tôi cười. Bà chủ trọ đẩy tôi lên căn gác sép. Tôi ở đấy một mình, “phòng không én lạnh”. Tôi cũng chả thèm “tranh đấu” để được ở chung dưới nhà với mấy thằng bạn làm gì. Thực sự tôi muốn tu tỉnh, tôi muốn khắc khổ, tôi muốn cô đơn. Tôi muốn đền tội lười biếng, trốn học, rong chơi suốt năm ngoái. Tôi đã hứa với bố mẹ tôi rằng, năm nay, tôi kính cẩn tặng hai người tấm bằng tú tài một. Tôi sẽ đợi lãnh bằng, đem tới Tòa Thị Chính sao mười bản, nhét túi quần sau hai bản, nhét túi quần trước hai bản, hai túi áo nhét hai bản, nhét luôn cả vào đôi giầy nữa. Tú tài ở tỉnh nhỏ nó lớn khủng kiếp. Chẳng thế mà cậu Nguyễn Đăng Đại mới trượt sơ sơ “o ran” Toán học đại cương đã được suy tôn là cậu cử. Cậu cử Đại lê guốc vẹt trên vỉa hè thị xã Thái Bình, hào quang tỏa ra sáng ngời. Đến nỗi, hàm răng dưới mái Tây hiên của cậu gồm mười chiếc bèn biến thành… thập nhị tú. Mười hai chiếc răng vồ là mười hai vì sao thì, quả thật, bằng cấp nó vĩ đại và đầy phép tích. Tôi cần đỗ tú tài. Tôi thèm đỗ tú tài. Tôi cố học. Tôi chăm học để đỗ tú tài. Xưa, ông Châu Trí trọ học nhà chùa, đốt lá đa học bài mà thành nhà khoa bảng, có thơ khen :

Một anh trò kiết chùa Long Tuyền
Ai ngờ nay lại đỗ giải nguyên
Ở đời chẳng có việc gì khó
Người ta lập chí phải nên kiên.

Bài thơ tứ tuyệt này sai luật. Nhưng nó in ở Quốc văn giáo khoa thư nên cấm đoán mọi phê bình. Ông Châu Trí có để lại cho đời sau một thành ngữ bất hủ “Có công mài sắt có ngày nên kim”. Anh làm thợ may thì anh cứ xài y boong câu này, khỏi phóng tác. Anh chơi bi thì anh tâm niệm “Có công mài đá có ngày nên bi”. Anh tán gái thì anh nói “Có công tán tỉnh có ngày em yêu”. Vân vân… Tôi, tôi nhủ thầm “Có công học gạo có ngày nên cơm”. Cơm áo và danh vọng, đó là mộng ước muôn thuở của kẻ sĩ Việt Nam. Bởi vậy, tôi lấy buồn làm vui về căn gác trọ của tôi. Tôi thề không xuống phố, không xi nê và không… tán gái. Và tôi soạn thảo chương trình “làm đời”, ghi trên tờ giấy trắng, tô đủ mầu sắc.

THỜI KHÓA BIỂU

Sáng

5 giờ đến 6 giờ:   Thức dậy, ôn bài
6 giờ đến 7 giờ:   Thể dục, tắm rửa, đánh răng, ăn sáng, sửa soạn đi học
7 giờ đến 7 giờ 30:   Đến trường
7 giờ 30 đến 11giờ 30:   Học ở trường
11giờ 30 đến 12 giờ:   Về học

Trưa

12 giờ đến 1 giờ :   Cơm trưa
1 giờ đến 2 giờ:     Ngủ trưa
2 giờ đến 6 giờ:    Học bài ở nhà

Tối

6 giờ đến 7 giờ:    Cơm chiều
7 giờ đến 11 giờ:   Học bài ở nhà

Chủ nhật, ngày lễ không đi đâu cả.
Thì giờ là vàng bạc.
Time is money.
Demain, il sera trop tard.
Cái gì có thể làm hôm nay, đừng để đến ngày mai.
Bé đi câu, lớn đi hầu, già đi hỏi nợ.

Một cái thời khóa biểu khe khắt, không thể rơi rụng tí ti ông lão thì giờ nào, nếu thực thi nghiêm chỉnh, anh học trò ngu nhất, đần nhất rồi cũng có ngày đậu thạc sĩ. Tôi thực thi nghiêm chỉnh, tôi sẽ là Châu Trí trên căn gác trọ hèn mọn của bà Bình Dân. Bèn dán thời khóa biểu lên tường một cách kiêu hãnh.

Tuần lễ thử thách đầu tiên đã qua. Tôi thấy mình chưa sút đúng mục đích. Còn vượt sà ngang hay ra ngoài. Cái kết quả nhờ thực thi thời khóa biểu là bà Bình Dân – bà chủ trọ Bình Dân của tôi – hết nghi ngờ tôi. Bà đối xử với tôi niềm nở. Tôi được bình đẳng. Bà hỏi tôi có muốn xuống ở chung dưới nhà không, tôi nói tôi thích ở riêng. Tôi tự khó khăn với tôi, đã đành, tôi còn làm ra vẻ khó khăn với mọi người. Tôi nghiêm nghị, ít cười nói. Ăn cơm xong, tôi lên gác, đóng cửa tu luyện. Tôi không thèm chuyên trò, nhòm ngó ai ở nhà trọ.

Sang tuần lễ thứ nhì, cái thời khóa biểu nó chọc ghẹo tôi. Tôi cáu sườn bắt chước ông Trình Tử sửa mình, sẵn trên bàn có cái lọ hoa, tôi gấp giấy nhỏ bỏ vô. Buổi sáng làm việc đúng thời khóa biểu thì bỏ giấy hồng. Trưa, tối cũng thế. Hễ sai thời khóa biểu thì bỏ giấy trắng. Cuối tuần dốc lọ, kiểm soát tương lai hồng và hiện tại trắng. Trắng chiến thắng hồng. Chiến thắng oanh liệt.

Bởi vì, 5 giờ đồng hồ báo thức reo vang. Mình ngủ đang ngon, nửa muốn dậy ôn bài, nửa muốn ngủ. Xẩy ra cuộc đấu lý giữa ma ngủ và thần học. Ma ngủ : Bài thuộc rồi, ôn chi nữa. Thần học : Văn ôn, vũ luyện, càng ôn càng nhớ và hiểu sâu rộng. Chánh án lương tâm : Ngủ mười lăm phút. Ma ngủ thắng trận, kéo dài giấc ngủ. Thần học bị thua. Và chánh án lương tâm an ủi : Thôi bài đã thuộc nên ngủ dưỡng sức. Ma ngủ thừa thắng xông lên tiêu diệt thì giờ tập thể đục. Mùa đông rét mướt, mưa dầm gió bấc chỉ nên tập thể dục… trên giường. Ngủ xâm lăng hai tiếng đồng hồ buổi sáng. Ngủ chinh phục giờ học bài buổi trưa. Ngủ, con ma khốn nạn đã làm hư hỏng người học trò. Cà phê đen trị nó, nó phớt tỉnh. Uống cà phê ngủ yên giấc hơn. Lương tâm, sự hốì hận, ý chí đậu tú tài của tôi đều bị khuất phục bởi móng vuốt của ma ngủ. Ngủ riết đâm lười. Lười đâm chán học. Chán học đâm mơ mộng. Được nhồi thêm tư tưởng chán đời của Cao Bá Quát, của Tản Đà, tôi chợt hiểu bằng tú tài hay bằng thạc sĩ thì cũng như… vô bằng. Nghĩa là ăn xong rồi ngủ, ngủ dậy đi vào phòng vệ sinh !

Ba vạn sáu nghìn ngày là mấy
Cảnh phù đu trồng thày cũng nực cười
Thôi công đâu mua chuốc lấy sự đời
Tiêu khiển một vài chung lếu láo

Ông Tản Đà thở dài :

Vèo trông lá rụng đầy sân
Công danh phù thế có ngần ấy thôi.

Thở dài chán chê, ông uống rượu và bàn món nhậu nhẹt khoái khẩu trên đời. Tôi rất khoái Cao Bá Quát, Tản Đà. Nếu học “chẳng thành, danh chẳng đạt”, ta đi một đường :

Văn chương phú lục chẳng hay
Trở về làng cũ học cầy cho xong

Ta noi gương ông Nguyễn Bỉnh Khiêm :

Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn người tới chốn lao xao

Và ta có bốn mùa đạm bạc :

Thu ăn măng trúc, đông ăn giá
Xuân tắm hổ sen, hạ tắm ao

Tôi lại thấy những ngày đạp xe lẽo đẽo theo sau những tà áo tiểu thư là nhất. Là học trò. Đã có nhô con Cam La làm quan thì cũng đã có “đờ cốc xi cốc” Lã Vọng, Bá Lý Hề làm quan. Vả nữa, ca dao dạy rằng:

Ba năm lưu lạc giang hồ
Một ngày làm lại cơ đồ vẫn xong.

Vậy tôi cứ lêu lổng thêm một năm, hai năm, ba năm. Bao giờ tôi thích đổ tú tài tôi sẽ đỗ (*).

(*) Chú ý: Đây là ý nghĩ láo lếu của một đứa lười học, ham ngủ, ham chơi. Kết quả, như các bạn đã rõ, bốn mươi tuổi nó còn thèm cái bằng tú tài mà không cách nào đoạt nổi, kể cả cách chạy tiền. Các bạn đọc chuyện đời nó hãy nguyền rủa tội lười học của nó và quyêt chí học chăm để đỗ tiến sĩ, thạc sĩ làm rạng danh giống nòi và tìm cách thu thuế sao cho dân vừa đóng thuế vừa vui.

Tuy nhiên, tôi không bỏ học đâu. Tôi chỉ bỏ cái thời khóa biểu thôi. Danh ngôn Khương Tử Nha : Bé đi tu tiên, lớn đi câu, già làm thừa tướng. Danh ngôn Bá Lý Hề: Bé ăn bám vợ, lớn đi chăn trâu, già làm quan đại phu. Danh ngôn Cam La : Bẩy tuổi làm đại sứ, tám tuổi chết toi. A, những châm ngôn tôi viết dưới cái thời khóa biểu chưa hẳn đã tuyệt đối. Tôi học thong thả. Học kiểu trâu bò ăn cỏ. Trên bàn học của tôi có chiếc gương. Tôi vừa học vừa ngắm mặt mũi mình. Tôi nhìn tôi trong gương. Tôi thộp cổ được mấy bạn trứng cá. Tôi bỏ rơi ông Ohm, ông Joule, nặn trứng cá. Trứng cá thòi ra, đầu nó đen đen. Tôi dùng móng tay nghiền nát nó. Trứng cá làm ta xấu giai, phải tàn sát nó. Mái tóc kiểu Robert Taylor lạc hậu rồi. Thử chải kiểu Stewart Granger xem sao. Lược đây, phết bi-ăng-tin lên tóc, rẽ ngôi, bắt lượn sóng nhấp nhô. Tạm biệt hoa bí tử, khỏa tử, tạm biệt dòng điện xoay chiều, tạm biệt hàm số, nghiệm số, tạm biệt gương lồi, gương lõm, tôi tìm một kiểu tóc ưng ý. Lại mở tung cánh cửa sổ nhìn xuống sân nhà trọ. Và, lần thứ nhất, kể từ thuở Kim Trọng đến đây, tôi gặp bóng dáng Thúy Vân. “Thúy Kiều là chị em là Thúy Vân”. Thúy Kiều đã kết duyên với Kim Trọng sửa xe đạp.

o O o

Thúy Vân nghe chị dặn dò “Em ơi em ở lại nhà, Hàng cơm em liệu mẹ già em lo. Mẹ già trời lạnh hay ho, Giấc mơ con lấy học trò mẹ đau”… Thúy Vân tuân lời Thúy Kiều, ở lại rửa bát đĩa, bưng cơm. Kim Trọng là tôi đây gặp Thúy Vân đang quét sân. Nàng nhặt những chiếc lá vàng rơi đầy vuờn thúy ! Cứ mộng tưởng sẽ thấy Thúy Vân rửa bát “trang trọng tuyệt vời, khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang”. Và dẫu Thúy Vân có mái tóc và nước da “rơm thua nước tóc, cóc nhường mầu da”, mộng tưởng, ta cứ thấy “mây thua, tuyết nhường”… Thúy Vân ngước nhìn lên đúng lúc tôi đương nhìn xuống bằng mộng tưởng. Hai luồng điện chạm nhau trên trời thì tóe ra sấm chớp, chạm nhau dưới đất thì gây hỏa hoạn. Điện Kim Trọng chạm điện Thúy Vân bèn tóe ra một sự xấu hổ giả vờ. Nàng quăng chổi bỏ chạy. Nỡm, bưng cơm mờ người, mà còn học đòi ngượng ngùng “nép vào dưới hoa” ! Còn tôi, tôi vươn tay khép cửa sổ. Ý bảo: Này cô em, đừng tưởng bở!

Một hôm, cái lọ hoa mốc thếch trên bàn của tôi được lau chùi sạch sẽ và được hân hạnh cắm mấy bông hoa hồng. Tôi thừa biết ai đã tặng tôi những bông hồng đó. Thúy Vân tưởng bở chứ còn ai ! Tôi bèn lấy làm khoái lắm. Vì tôi có trò chơi mới. Văn chương mua vui gọi là đùa với ái tình. Các nhà văn nhớn gọi là gào thét phẫn nộ bằng nụ cười để giải tỏa cô đơn cho vô thức gặp ảo ảnh và tiềm thức phục sinh chới với trong vũng sình tư duy và nhận định bản ngã trôi lều bều giữa siêu hình bỗng đụng tha nhân ôm cuốn triết học hì hục sao chép danh từ hiểm hóc viết áng văn to hơn bàn tay luận về thân phận làm người sự sống cõi chết hiện hữu và hủy diệt. Tôi đùa với ái tình ra sao ? Tôi bầy bừa bãi căn gác sép. Nàng dọn dẹp gọn gàng, ngăn nắp. Thấy tàn thuốc lá gạt tứ tung, nàng sắm hai cái “xăng đờ ri ê”. Chăn màn, nàng gấp ngay ngắn. Lại rưới thêm chút xíu nước huê mới kỳ diệu. Tôi làm như vô tình khiến nàng càng chí tình. Nàng yêu tôi câm nín. Cái xe đạp cũ rích của tôi xuân thu nhị kỳ lau một lần, nay sáng nào cũng được lau sạch. Nàng đã dậy sớm. Nàng âm thầm tỏ tình Nàng tỏ tình trong đêm. Có bữa, tôi về học trễ, ăn cơm một mình, nàng dẹp mâm, thấy đĩa thịt kho còn nguyên nàng cảm động hỏi tôi :

– Cậu không ăn thịt mỡ à ?

Lần đầu tiên tôi nghe nàng nói. Giọng nàng không đến nỗi tệ. Tôi ngó nàng. Nàng chớp mắt. Bối rối. Sắc đẹp của nàng có thể cho điểm trung bình mà không sợ bị chê là rộng lượng. Nếu anh học trò nào bằng lòng làm chủ hàng cơm, nên cưới nàng. Tôi ôm nhiều mộng ước thành ra, khó mà yêu nàng. Vì yêu nàng xong là tiến tới hôn nhân liền. Con dao phay của mẹ nàng đã khuyến cáo thế.

– Cậu…

– Vâng, tôi không biết ăn mỡ kho.

– Cậu thích ăn thịt nạc ?

– Thịt nạc kho nhừ cơ. Răng tôi yếu lắm.

– Cậu thích món gì nữa ?

– Rau cần xào thịt bò thật nóng. Cô có cho ăn thịt kho nhớ bỏ thêm vài miếng đậu rán nhé ! Tôi sẽ nhường thịt, ăn đậu thôi.

– Tôi sẽ nhớ. Em sẽ nhớ, thưa cậu…

– Này cô…

– Dạ.

– Tên trong giấy khai sinh của cô là gì ?

– Em tên Hòa.

– Tại sao lại tên Hòa ? Tên Vân mới giống Thúy Vân.

– Bố em đặt vậy.

– Cô Hòa ạ…

– Cậu dặn gì em ?

– Cái xe của tôi cũ rồi, cô đừng mất công lau. Tôi cũng ghét ngắm hoa cô đừng mua tốn tiền. Nhỡ bạn tôi thấy, chúng nó chế nhạo tôi thì tôi phải kiếm nhà trọ khác.

– Cậu đừng sợ.

– Việc gì tôi sợ nhỉ ?

– Em hứa với cậu là không ai biết cả.

– Nhưng tôi không thích.

– Cậu không thích ?

Mặt trời trên khuôn mặt nàng đang chói chang niềm vui bỗng bị che lấp bởi lớp mây chì dầy đặc và tàn nhẫn. Nàng cúi mặt. Đôi mắt chớp mau hơn, đôi mắt từ bé đến tuổi biết tỏ tình chỉ thu về những hình ảnh tầm thường, nghèo nàn thơ mộng. Đôi mắt ấy, chắc hẳn ban đêm đã nhắm lại tưởng tượng những chuyện ngoài tầm tay với. Và khi mở ra, chuyện vừa tầm tay với của nàng là chuyện người chị vỡ mộng, thả dài đời mình cạnh anh chồng sửa xe đạp. Tôi chợt phát hiện một gợn sóng thương xót lăn tăn ở hồn tôi. Tôi nói:

– Cô Hoà…

Nàng nuốt nước miếng :

– Dạ.

Tôi đốt điếu thuốc. Que diêm xoè một tiếng khẽ. Tiếng xoè quyết định một đời díêm. Tôi quyết định nỗi vui buồn của cô con gái bà chủ trọ.

– Những bông hồng của cô đẹp lắm.

Nàng mỉm cười sung sướng:

– Cậu thích…

– Tôi thích hoa hồng. Nhưng tôi sợ gai.

– Em sẽ bỏ gai đi.

– Ồ, bẻ gai đi còn gì là hồng?

– Tại vì cậu sợ.

– Cô chẳng hiểu chi cả !

– Vâng, em chẳng hiểu.

Nàng không hiểu thật. Làm sao nàng hiểu được? Tôi chỉ định đùa bỡn với ái tình cho đỡ buồn, ai ngờ ái tình nó quật lại tôi, nó “ngựa về ngược”, nó khiến tôi lo sợ con dao phay của bà chủ trọ. Có lẽ, tôi phải cương quyết với nàng, phải cấm chỉ nàng lau xe và dọn phòng của tôi, nhất là, đừng cắm hoa vào bình nữa. Khổ nỗi, sự đùa nghịch của tôi không nguyên chất tinh ác mà pha trộn thương xót nên, thay vì làm khổ người lại hóa ra làm khổ mình. Thôi, tôi sẽ kiếm cách bắt nàng ghét tôi cay đắng.

Trước hết, tôi mua hai cái đinh khuy và một ổ khóa. Thúy Vân “con bà bán cơm” sẽ khó lòng vào phòng văn của Kim Trọng để dọn đẹp và cắm hoa. Tôi tưởng mình đã thành công. Tôi lầm. Tôi chỉ thành công hai hôm. Đến hôm thứ ba, dù phòng đã khoá chặt, hoa vẫn cắm đầy bình và sách vở, chăn màn bừa bãi vẫn được thu xếp thứ tự. Thúy Vân có thể là Giáng Kiều ư ? Rất tiếc tôi lại là Tú Uyên đất đá. Nàng kiên nhẫn chinh phục tôi. Nàng thật tình yêu tôi. Nhưng tôi không yêu nàng và cũng không muốn lợi dụng nàng.

Ôi, nếu lợi dụng nàng thì ngoài những món ăn khoái khẩu “xúp lê măng” còn tiến xa hơn về vụ nhờ giặt quần áo và hút thuốc lá miễn phí ! Không lẽ một kẻ sĩ đi lợi dụng gái khờ khạo ? Bé “nạo bím” gái, lớn làm quan sẽ “nạo bím” dân, sẽ tham nhũng, hối lộ, mất dậy. Tôi phải chấm dứt trò chơi một cách quyết liệt. Thì nàng bước thêm những bước chân âm thầm.

Đêm khuya, nhà trọ vắng lặng. Nàng lên cơn sốt tương tư. Nàng thoăn thoắt leo thang gác, gõ cửa phòng tôi. Tôi mở cửa và tôi sợ toát mồ hôi. Nàng bình tĩnh lạ thường. Yêu là mù quáng. Nàng yêu, nàng sáng suốt nhất thiên hạ. Tôi vội tắt đèn. Nàng âu yếm hỏi tôi :

– Cậu sợ em à ?

Tôi run rẩy đáp :

– Tôi sợ con dao phay của mẹ cô. Cô xuống nhà mau đi. Cô lên tìm tôi có việc gì ?

Nàng thở dài :

– Cậu sợ thì em xuống vậy.

Tôi dục:

– Cô xuống mau đi. Tôi lạy cô đấy.

Nàng chép miệng rất khẽ. Cứ như con thạch sùng tiếc của.

– Em định…

– Thôi, cô đừng định nữa.

– Em chỉ định hỏi cậu học khuya có đói không.

– Tôi no căng bụng.

– Cậu nói dối em.

– Thì tôi đói.

– Nếu cậu đói, em đã mua xôi lạp xường.

Tôi vò đầu :

– Cám ơn cô, cô ăn giúp đi. Tôi ghét xôi lạp xường.

Nàng hỏi :

– Cậu thích ăn xôi gà không ?

– Tôi ghét tất cả các thứ xôi.

– Hay cậu xơi lục tàu xá nhé ?

– Cô xuống nhà đi!

– Cậu đuổi em ?

– Tôi mời cô xuống.

Nàng lẳng lặng xuống nhà. Tôi nghe dậy ở đáy hồn tôi một niềm ân hận. Tôi bật đèn. Rồi tắt. Tôi mở cửa ngó xuống. Thấy nàng ngồi ủ rũ ở bực thềm. Có lẽ nàng khóc. Tôi đã làm nàng khóc. Tôi đến đây phá tan sự bình thản của giòng sông an phận. Không phải riêng tôi. Chắc chắn là những anh học trò ở trọ đã gây sóng ngầm cho giòng sông bình thản. Phải chi bà chủ hàng cơm chỉ bán cơm cho công nhân nhà máy nước và đừng bao giờ nuôi học trò. Vì bà nuôi học trò nên con gái bà dại dột yêu học trò. Một cô đã vỡ mộng. Một cô đang muốn… vỡ mộng. Thôi, Thúy Vân ạ, để Thúy Kiều chịu đựng oan khổ, còn cô, cô sẽ ở lại trông coi cửa hàng cơm với một người chồng mơ ước lấy cô làm vợ. Tôi không nỡ đùa dai. Tôi chấm dứt nhé !

o O o

Tôi bèn đi tìm một nhà trọ mới. Chẳng cần hành hạ cái thân xác mình làm gì, nếu mình có chí, ở hoàn cảnh nào cũng học được, lọ là phải chọn chỗ bần cùng như cái nhà trọ gần nhà máy nước này. Thế thì, ngoài giờ học tại trường, tôi đã bỏ rơi giờ học tại gia để kiếm một nơi trọ không có con gái bà chủ và con dao phay sắc. Tôi đi. Tôi quen chân đi luôn. Tói bỏ bữa là thường. Vì đi nên tôi lại bị phồn hoa cám dỗ. Và tôi đã thực thi cái thời khóa biểu của tôi ở các rạp xi nê, trên ghế công viên, trong quán cà phê, bên bờ hồ…. Môt đêm, tôi trở về nhà trọ rất khuya. Tôi cứ đứng ngoài cửa, chần chờ mãi không dám gọi. Tôi đốt hai ba điếu thuốc lá. Tôi suy nghĩ liên miên rồi quyết định đạp xe xuống phố vào ngủ nhờ nhà một thằng bạn. Bỗng cánh cửa hé mở. Tôi mừng quýnh. Thúy Vân ló đầu ra. Nàng hỏi :

– Cậu đấy à ?

Tôi đáp:

– Vâng tôi đây.

Nàng mở rộng cánh cửa:

– Cậu dắt xe vào đi. Em thức chờ cậu về.

Tôi nói:

– Cô tốt quá. Lần sau cô đừng chờ tôi nữa.

Nàng bật đèn:

– Em không chờ cậu, ai mở cửa giùm cậu ?

Tôi vờ đưa đẩy:

– Ô, thế mà tôi quên. Tôi vô tình thật.

Nàng túm lấy câu nói của tôi, bỏ nhỏ :

– Cậu vô tình thật. Mà, tại sao dạo này cậu bỏ bữa luôn luôn thế ?

Tôi trả lời cho xong chuyện :

– Bận học ở thư viện. Học xong thì bạn bè mời đi ăn cơm.

Tôi đã dắt xe tới sân. Nàng tắt đèn. Dựng xe dưới chân cầu thang, tôi lên gác quên cả lời cám ơn nàng. Tôi mở cửa phòng, bật đèn. Căn phòng của tôi được nàng dọn dẹp kỹ lưỡng. Màn đã giăng sẵn. Gối chăn ngay ngắn. Trên bàn có một “phích” nước nóng, cái “phin” cà phê, hộp đường miếng và hai gói thuốc lá Cotab . Nguy thay, nàng đã cảm nặng tôi. Sẽ có ngày nàng ốm thập tử nhất sinh, thầy thuốc dơ tay hàng. Rồi một Hoa Đà chẩn mạch nói nàng bị bệnh, tương tư, vi trùng đang khiêu vũ trong tim. Muốn cứu nguy nàng, chỉ còn cách cưới tôi làm chồng nàng. Bấy giờ, bà chủ Bình Dân, thay vì hươi dao phay dọa tôi, bà sẽ van lạy tôi và tôi sẽ định cư đời tôi ở cái quán cơm ngoại ô đèn vàng khè. Tôi sẽ ngồi thu tiền. Nàng tiếp tục bưng cơm. Chắc không còn gì buồn thảm hơn. Hình ảnh đó gợi tưởng một nhân vật trong truyện ngắn Cục tẩy của Nhất Linh. Tôi bắt rùng mình. Ôi chao, tôi sẽ ở đây, hút thuốc lào vặt suốt ngày, đọc truyện Càn Long du Giang Nam để chờ chiều chủ nhật dẫn mẹ con nàng xuống Hàng Bạc coi gánh Kim Chung, “tiếng chuông vàng thủ đô”, diễn tuổng Đôi mắt huyền trên sa mạc hoặc Mái tóc Xăm xông và khóe mắt Đa lệ la!

Tôi mỉm cười. Và tắt đèn chui vào giường. Hôm sau, tôi lại đi tìm nhà trọ. Đúng lúc tôi tìm được nhà trọ vừa ý thì chiến tranh sửa soạn bế mạc. Quân đội Pháp lần lượt bỏ rơi nhiều tỉnh miền đồng bằng Bắc Việt. Đường “tiếp tế” của tôi bị cắt đứt. Gia đình tôi đã không thể gửi “măng đa” cho tôi. Vậy là tôi thiếu bà Bình Dân một tháng tiền cơm chưa thanh toán kịp. Bà Bình Dân đã đòi và tôi đã trình bầy hoàn cảnh. Tôi xin bà ban cho một ân huệ là nếu không có tiền, bà vẫn cho tôi đậu nhờ trên căn gác xép một thời gian, chờ tin nhà. Và trong thời gian này, tôi kiếm cơm ăn ở đâu mặc xác tôi. Bà Bình Dân bằng lòng. Tình hình chiến sự không cho phép tôi ham chơi hay ham học nữa. Tôi đành lê gót đi ăn mày thằng bạn này một bữa thằng bạn kia một bữa và chịu khó đọc “Thông cáo của Bộ Tối Cao Chi Huy Quân Đội Pháp” xem chừng nào mình có thể cút khỏi Hà Nội. Thúy Vân đã hiểu lý đo tôi bỏ cơm. Nàng gửi cho tôi một “thông điệp” leo đèo lội suối. Nghĩa là chữ nàng viết bất chấp giòng kẻ. Nguyên văn “thông điệp” :

Thưa cậu,

Em muốn được cậu cho phép em gặp cậu. Nếu cậu không cho em gặp cậu ở nhà thì em hẹn cậu à vườn hoa Con Cóc, chiều mai, đúng sáu giờ. Hay chiều mai cậu đợi em ở cửa rạp Kim Chung, em và cậu vừa coi tuồng vừa nói chuyện. Thưa cậu chuyện này quan hệ. Có gì cậu giả nhời em bằng cách cậu đừng khoá cửa chiều nay.

Ký tên
Hoà

Tôi xé nát “thông điệp” của nàng. Cũng chẳng “giả nhời” chi cả. Nửa đêm hôm sau, nàng lên phòng tôi, gõ cửa thật nhẹ nhàng. Nàng khóc và lạy tôi nghe nàng nói hết câu chuyện quan hệ. Tôi định bụng hễ nàng nói yêu tôi là tôi đuổi nàng liền tút xụyt.

– Thưa cậu…

– Cô nói nhanh nhanh kẻo mọi người biết.

– Cậu đừng khinh em.

– Không, tôi không dám khinh cô đâu. Cô rất tốt.

– Em đã hiểu thân em rồi. Em đáng trách, mong cậu tha lỗi.

– Cô không có lỗi gì cả.

– Em làm phiền cậu. Em biết cậu đang lo chuyện gia đình dưới quê.

– Đúng đó, cô Hoà ạ!

– Cậu…

Nàng ngừng lại, đưa cánh tay quệt nước mắt:

– Em thề với cậu rằng mẹ em không hay chi sốt cả. Em cũng chẳng dám hé răng nói với mẹ em.

Tôi hỏi :

– Cô nói gì ?

Nàng thò tay vô cạp quần, móc ra một gói:

– Em để dành được bốn ngàn, em cho cậu mượn để cậu đóng tiền cơm cho mẹ em.

Tôi lặng người. Nàng nói tiếp :

– Cậu đừng đi ăn cơm nơi khác. Trông cậu dạo này gầy quá. Cậu phải cẩn thận kẻo ốm.

Nàng đặt gói tiền lên mặt bàn. Tôi ứa nước mắt. Tôi muốn nắm tay nàng. Nhưng tôi do dự.

– Cô Hòa…

– Dạ.

– Tôi sẽ nhớ cô mãi mãi. Cô là người tốt, cô sẽ gặp nhiều may mắn.

– Em cám ơn cậu.

– Cô cất tiền đi. Khi nào cần dùng, tôi sẽ hỏi mượn cô.

Tôi bịa chuyện :

– Gia đình tôi vừa gửi “măng đa” cho tôi. Mai tôi tới bưu điện lãnh.

Tôi xoa tay:

– Lãnh tiền xong, tôi mời cô đi coi cải lương nhé! Cô nhận lời chứ ?

Nàng không trả lời. Và, tuy chúng tôi đứng trong bóng tối song tôi vẫn nhìn khuôn mặt nàng rạng rỡ như chưa bao giờ nàng có một lần rạng rỡ.

Tuần lễ sau, tôi đem cái xe đạp cũ rích đến chợ trời phát mại lấy tiền trả bà chủ trọ Bình Dân. Còn thừa, tôi đùng làm lộ phí hồi hương. Hôm tôi rời nhà trọ, cô Hòa bị đau. Vậy mà cô vẫn tung chăn, bước ra cửa hàng tiễn chân tôi. Mắt cô sâu trũng một cách thảm hại. Tóc cô rối tung. Khuôn mặt cô buồn bã cơ hồ buổi chiều tàn tạ. Cô đứng nhìn tôi xách chiếc va li. Cô biết không bao giờ tôi trở lại căn nhà trọ này nữa. Tôi đi một quãng đường, ngó lui. Thấy cô còn đứng yên chỗ cũ. Tôi nghe lòng mình dậy lên một nỗi ngậm ngùi nên tin rằng cô Hòa đang khóc. Và, mãi bây giờ, tôi mới cảm thấm những giọt nước mắt của cô.

Đôi khi, nhớ về những chuyện tình thuở nhỏ, tôi đã không quên chuyện tình của cô Hòa. Tôi không quên, cô Hòa ạ!.

duyenanh_sign2

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s