MỘT TÙ BINH MỸ Ở VIỆT NAM (1…5)

4

James Fisher bị khủng hoảng tinh thần. Chàng không thiết ăn nữa, dù bữa cơm chiều nay có bát súp rau, miếng bíp tếch, khúc bánh mì và hai trái chuối. Chàng tin rồi. Chàng tin đã hết chiến tranh, đã hòa bình, đã trao đổi tù binh. James đã nhận diện một vài chiến hữu trên pháo đài bay của chàng trong cuộc họp báo và trên đường hồi hương. Tất cả tù binh Mỹ đã trở về Mỹ, theo lời người thuyết minh cuốn phim tài liệu. Cuốn phim này đã chiếu khắp thế giới, khắp Hoa Kỳ. Chỉ thiếu James. Tại sao? Chàng hỏi chàng. Chàng hỏi bốn bức tường tù câm nín. Chàng hỏi cửa thép vô tri. Chàng hỏi song sắt bất động. Chàng hỏi sự hiu quạnh lấp trùm. Chàng hỏi Thượng đế vắng mặt. “Anh vẫn thích nhìn rõ sự thật, dù anh sẽ khóc, sẽ nguyền rủa kẻ bỏ rơi anh.” James đã rõ sự thật. Chàng chưa khóc, chưa nguyền rủa kẻ bỏ rơi chàng. Kẻ bỏ rơi chàng? Nàng Chi Mai quả quyết là bọn đầu não gây chiến tranh, là Tòa Bạch Ốc và Ngũ Giác Đài. Ngũ Giác Đài và Tòa Bạch Ôc không hề gọi chàng lên đường chiến đấu. Chàng không hề biết bọn đầu não gây chiến tranh, âm mưu và tham vọng của chúng. James sinh ra và lớn lên ở nước Mỹ. Nước Mỹ là tổ quốc của chàng. Tổ quốc chàng nuôi dưỡng chàng. Mỗi giọt máu, mỗi thớ thịt, mỗi tế bào trong cơ thể chàng đều đã ướp nồng hương vị Mỹ. Thượng đế tạo ra con người nhưng quê hương của nó, tổ quốc của nó cho nó cuộc sống, cho nó niềm tin, cho nó niềm hy vọng, cho nó tình yêu, cho nó sự kiêu hãnh làm người. Chỉ khi nào con người hết còn là con người nó mới chối bỏ tổ quốc của nó và nguyền rủa tổ quốc của nó. Còn là con người, nó không được cả phép trách móc tổ quốc, đòi hỏi tổ quốc. “Hãy hỏi anh đã làm gì cho tổ quốc.” Tổ quốc gọi, James lên đường. James không thắng trận, James mang tội với tổ quốc. Tổ quốc chưa trách móc James, sao James dám trách móc tổ quốc?

Không, James Fisher cam đành, ngay cả, tổ quốc của chàng đã bỏ rơi chàng. James vuốt ve James, James an ủi James. Và James nghĩ đến Chúa Jesus, đến khung cửa hẹp, đến nỗi đau đóng đinh trên thập tự giá. Nhưng mà, là con người nhỏ bé, yếu đuối như mọi con người tầm thường, tâm hồn James vẫn bất ổn. Cái thung dung của năm tháng cachots quan tài xi măng đã bị nao núng. Có phải James đã mở cửa rộng đi vào sa ngã, hư đốn? James muốn quên hai cuốn phim tệ hại, muốn xóa bỏ những hình ảnh méo mó đã xâm nhập tâm khảm chàng, đã hành hạ niềm tin của chàng. Cuối cùng, James nói với James: Hòa bình chỉ là chấm dứt chiến tranh. Hòa bình không đồng nghĩa với thua trận. James nhớ chuyện những người lính Nhật không biết đã hết chiến tranh, không biết thua trận, vẫn cầm súng chiến đấu trong rừng già Phi Luật Tân, Hạ Uy Di. Có kẻ chết chẳng ai chôn, chết giữa hiu quạnh, mang theo niềm tin sẽ thắng trận, sẽ hồi hương vinh quang. James sẽ ấp ủ niềm tin ấy, sẽ bằng lòng chết trong hiu quạnh, chết không một nấm mồ, chết xứng đáng như một người lính chiến không trách móc ai, không nguyền rủa ai.

Chàng lại ăn ngủ đều đặn. Và khi cần suy nghĩ, chàng nghĩ về nước Mỹ, về tiểu bang Texas, về thời niên thiếu bên dòng sông Rio Grande. Chàng nghĩ về gia đình, về căn nhà êm ấm, về những con người hiền lành trong một đời sống thơ mộng. James vận dụng thứ ánh sáng cực mạnh của hồi tưởng soi sáng lối về quê hương thơ ấu. Ở đó là hoa đồng cỏ nội, là mật ong tuổi đào, là suối mơ cổ tích. Ở đó là gió đàn vi vu, là chân chim in vết, là kỷ niệm mọc mầm. Ở đó là Susan McCareen nắm tay James Fisher tung tăng chạy nhẩy. Ở đó, cây đời cổ thụ mà tay người quá ngắn, lượng trời vô hạn mà lòng người hữu hạn, mơ ước nghìn năm vẫn ăm ắp ước mơ. James đã tìm được nơi chốn nương tựa và ẩn nấp những hệ lụy, những mũi tên tẩm thuốc độc rình bắn thẳng vào trái tim đôn hậu của chàng.

Vào lúc James Fisher hết khủng hoảng tinh thần, người ta lại mở cửa phòng dẫn chàng lên gặp Chi Mai. Vẫn cái magnétoscope giữa bàn. Chi Mai mặc áo sơ mi hồng dài tay, quần xanh đậm. Nàng xức nước hoa thơm dịu. Chi Mai mỉm cười:

– Chào anh, James.

– Chào cô.

– Anh khỏe chứ?

– Cám ơn cô, tôi bình thường.

– Anh có vẻ suy nghĩ.

– Sao cô biết?

– Nhìn mắt anh.

– Cô thích nhìn mắt tôi, cô Chi Mai.

Nàng vỗ tay:

– Hoan hô anh, anh đọc tên tôi đúng rồi đây.

Chàng nói:

– Tôi cần cố gắng thêm để hiểu đúng cô nữa.

– Hãy nhìn thẳng mắt tôi.

Nàng mở to mắt, không chớp. Rồi hỏi:

– Anh thấy gì ?

Chàng trả lời:

– Tôi hy vọng cô thành thật.

Nàng nhăn mặt:

– Phải nói tôi thành thật. Anh đã hiểu anh là ai, tôi là ai. Chỉ sợ anh không thành thật, đừng sợ tôi không thành thật. Tôi đã dối anh điều gì chưa?

Chàng đáp:

– Chưa, từ hai tuần nay.

– Mãi mãi.

– Tôi hy vọng thế.

– Tôi thành thật, anh suy nghĩ, anh buồn. Tôi gian dối, anh lo ngại, anh buồn. Thế nào, anh vẫn thích sự thật chứ?

Nàng xoa tay:

– Xin lỗi anh nhé! Anh hút thuốc và uống nước

Chàng ngập ngừng:

– Cám ơn cô.

Chờ James Fisher đốt thuốc và mở hộp nước ngọt xong, nàng nói:

– Tôi vô tình quá. Lát nữa, ở đây về phòng, người ta sẽ cắt tóc, cạo râu cho anh đàng hoàng. Anh sẽ được soi gương ngắm nghía dung nhan anh.

James khẽ gật đầu:

– Cám ơn cô.

Nàng vào thân bài luận với phần nhập đề lung khởi.

– Anh đã tin bộ máy chiến tranh Mỹ bỏ rơi anh chưa?

– Tổ quốc tôi không bỏ rơi tôi.

– Tôi có nói tổ quốc anh bỏ rơi anh đâu! Tổ quốc của tôi, tổ quốc của anh rất thiêng liêng đốì với tôi, đốì với anh. Ta không nên đề cập chuyện tổ quốc ở đây. Đồng ý, James?

– Đồng ý.

– Nếu anh không thích tin bộ máy chiến tranh Mỹ bỏ rơi anh, chúng ta bỏ rơi luôn vấn đề này.

– Vâng.

– Tôi tôn trọng niềm tin của người khác. James ạ, anh hãy tin những kẻ đã bị cả loài người tiến bộ kết án và khinh bỉ; những kẻ mà ngay cả tù binh Mỹ, lính Mỹ tham dự chiến tranh bẩn thỉu ở Việt Nam cũng kết án và khinh bỉ; ngay cả dư luận nhân dân Mỹ dân chủ, báo chí Mỹ và quốc hội Mỹ cũng kết án và khinh bỉ.

– Tôi không kết án ai, khinh bỉ ai khi tôi chưa biết tội lỗi chính xác của người ta.

– Anh chưa biết bọn đầu não chiến tranh Hoa Kỳ đã làm mất mặt dân tộc Mỹ, đã làm ô uế lịch sử Mỹ, đã làm tê tái tổ quốc của anh à?

– Chưa.

– Anh chưa biết Mỹ đã thua trận ở Đông Dương?

– Người Mỹ không bao giờ thua trận.

– Bởi họ tưởng Việt Nam là bộ lạc Apaches, bộ lạc Cheyennes. Anh muốn nhìn rõ người Mỹ cuốn cờ bỏ chạy không? Cam đoan phim do Mỹ quay và đã chiếu khắp nước Mỹ, khắp thế giới. James thực tế, xem chứ?

James Fisher còn đang lưỡng lự, Chi Mai đã thách thức:

– Anh trót nhìn rõ sự thật hai lần rồi. Đau đớn thêm một chút, có sao?

Chàng ngồi thẳng, dõng dạc:

– Tại sao không nhỉ? Sự thật làm ta đau đớn, đồng thời, nó làm ta khôn lớn.

Chi Mai khen ngợi:

– Ý nghĩ tuyệt diệu.

Nàng mở máy. Cuốn phim do hãng truyền hình tư nhân của Mỹ thực hiện, diễn giải bằng tiếng Anh do phái viên Mỹ đọc. Bốì cảnh là Nam Vang. Người ta quay sự hỗn loạn của dân chúng Nam Vang chạy trốn Khmer Đỏ. Cảnh chính vẫn là Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ ở Nam Vang. Dân chúng bu quanh Tòa Đại Sứ hy vọng được di tản theo người Mỹ. Đại sứ John Dean ôm lá cờ sao sọc, hớt hơ hớt hải chạy khỏi Tòa Đại sứ leo lên máy bay trực thăng. Đại sứ John Dean là biểu tượng thê thảm rõ nét nhất của Hoa Kỳ bại trận. James Fisher toát mồ hôi, lạnh thấu xương tủy. Nước Mỹ bách chiến bách thắng của chàng đã thua trận ở Kampuchia. Thần tượng chiến thắng phát xít Đức qua hình ảnh Vic Morrow và Rick Jayson trong Combat đã đổ vỡ, hoàn toàn đổ vỡ. James Fisher cố nén để khỏi bật tiếng khóc trước mặt Chi Mai, trước mặt một người con gái Việt Nam.

– Tôi hy vọng sự hốt hoảng chạy trốn của ngài Đại sứ John Dean sẽ làm anh khôn ra.

Nàng nói và tắt máy:

– May mà ông ta còn kịp cuốn cờ!

Chi Mai thay cuốn video cassette mới. Nàng nhấn nút. Vẫn phim do truyền hình Mỹ thực hiện. Bối cảnh là Sài Gòn. Sự hỗn loạn của dân chúng có phần bi đát hơn ở Nam Vang. Máy bay vận tải lên xuống tại phi trường Tân Sơn Nhất. Dân chúng Sài Gòn bị lính Mỹ xô đạp. Ngày 29 tháng 4 năm 1975, ở Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ đại lộ Thống Nhất, dân chúng đánh đai kín mít. Thủy quân lục chiến Mỹ canh gác cổng, chung quanh tường. Anh hùng khai phóng tự do, dân chủ thẳng tay giáng báng súng xuống thân thể những ai vượt cổng Tòa Đại Sứ. Trực thăng lên xuống, vần vũ bầu trời Sài Gòn. Suốt đêm 29 tháng 4, người Mỹ lo chạy trốn. Đại Sứ Martin chuồn ban đêm. Trưa 30 tháng 4, Việt Cộng vào Sài Gòn. Xe tăng Việt Cộng ngạo nghễ chạy trên đại lộ Thống Nhất. Cờ đỏ sao vàng và cờ trên đỏ, dưới xanh giữa sao vàng cắm trên nóc Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn và ở Dinh Độc Lập. Chiều 30 tháng 4, nón sắt, súng M16, quân trang, quân phục made in USA nằm xếp đống ở các góc phố, vỉa hè. Hôm sau, 1 tháng 5, Sài Gòn rợp bóng cờ đỏ sao vàng và giải phóng quân chiến thắng Mỹ.

James Fisher hoa mắt. Đầu óc anh đảo lộn. Cuốn phim Green berets do John Wayne đóng đã là đồ bỏ. Quả thật, người Mỹ đã thua trận ở Việt Nam. Goliath Mỹ đã bị David Việt Nam bắn viên đá trúng mắt, vỡ óc.

– Anh sẽ khôn ra, James ạ!

Nàng tắt máy.

– Phải, anh sẽ khôn ra. Tôi hy vọng thế. Nhưng người ta phải biết phân biệt nỗi đau đớn thật và nỗi đau đớn giả, nỗi đau đớn tự nhiên và nỗi đau đớn tự tạo, nỗi đau đớn vô tình và nỗi đau đớn cố ý.

Nàng nhấn chuông. Gã cai ngục mở cửa bước vào.

– James, anh về suy nghĩ.

Chàng chào nàng, mệt mỏi theo gã cai ngục trở lại phòng.

—> 5

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s