MỘT TÙ BINH MỸ Ở VIỆT NAM (6…10)

bia_tubinhmyovn6

James Fisher thật sự mệt mỏi. Chàng đã gặp Chi Mai bốn lần. Cả bốn lần đều đáng suy nghĩ. Nó khởi sự như một bình minh tuyệt vời rồi buổi trưa gay gắt và giông bão, sấm chớp, mưa gió. Nó cũng khởi sự như một chiều vàng mơn trớn rồi nắng úa thoi thóp và bóng tối hiu quạnh, cô đơn. Chi Mai không cưỡng bức tư tưởng chàng. Nàng dẫn dắt chàng đi trên đường oan của sự thật. Nàng bảo nàng không nói dối, không thích nói dối. Nàng đâu muốn chàng đau đớn, vật vã với đau đớn, quằn quại với đau đớn. Chàng tìm nỗi đau đớn vì chàng ham sự thật. Người Mỹ thực tế. Người Âu Châu thực tế. Nàng hiểu tâm tính người Mỹ. Nàng hiểu tâm tính James. Chàng đau đớn và chàng không thể oán trách nàng.

Sự thật đã mặc khải James. Nhưng sự thật không phải là phép tích mầu nhiệm của Thiên Chúa giúp chàng giải thoát hay mở cửa biên giới để chàng bước vào hy vọng, tin yêu; đưa tay kéo chàng lên khỏi vực thẳm sa ngã, tội lỗi. Mà là một vết thương sưng mủ giữa trái tim chàng. Vết thương mỗi ngày mỗi nhức nhối. Vì nó không vỡ nên nó sẽ chẳng lành. Không bao giờ vết thương lành cả. Nó đã in hằn vào tâm tưởng chàng, in hằn vào lịch sử nước Mỹ. Đó là vết thương truyền kiếp. Muốn quên nó, dân tộc Mỹ cần trông đợi một đại hồng thủy. Kẻ nào gây ra nỗi đau đớn cho cả dân tộc? Kẻ nào là tội đồ của chiến tranh?

Nàng Chi Mai của chàng James Fisher đã quả quyết tội đồ của chiến tranh bẩn thỉu ở Việt Nam là Tòa Bạch Ốc, là Ngũ Giác Đài, là nghị sĩ, dân biểu diều hâu. Tất cả chịu lệnh Wall Street. Bọn đầu não chiến tranh đặt tổng hành dinh ở Wall Street. Nàng khơi dậy tự đáy lòng chàng, tự đáy lòng một người lính, niềm phẫn nộ về sự bất công giữa thống trị và kẻ bị trị, giữa mệnh lệnh và kẻ thi hành mệnh lệnh, giữa con người và con người. James Fisher nao núng. Nàng lý luận khách quan. “James, anh về suy nghĩ…”

James suy nghĩ.

Chàng lớn lên cùng những hồi trống thúc dục soi sáng chân lý tự do, dân chủ cho những vùng đất triền miên bóng tối nô lệ, ngu dốt, lạc hậu. Chàng say mê lý tưởng tân biên cương của người hùng Kennedy. Thái độ sống ích kỷ, tự phong tỏa mình, ngủ vùi trên vinh quang của mình, phè phỡn trên giầu sang của mình, hưởng riêng ân huệ của Thượng đế ban cho mình cần chấm dứt. Kennedy đã chỉ đạo tuổi trẻ Mỹ. Không còn những thế hệ lạc lõng, thế hệ chán chường sau mỗi chiến tranh. Sự chiến thắng của chiến tranh vô nghĩa. Nó đã không tạo dựng nổi hạnh phúc vĩnh cửu cho con người trên trái đất. Dân tộc Hoa Kỳ được hưởng ân sủng của Thượng đế thì phải biết làm đúng ý của Thượng đế. Nó phải vác thánh giá mới, chấp nhận mọi cay đắng ngộ nhận, mọi chua chát hệ lụy, dẫn dắt loài người đứng dậy, khai phóng văn minh cùng khắp trái đất, chia sẻ hạnh phúc cùng khắp trái đất. Để loài người gần gũi, cảm thông và thương yêu lẫn nhau. Không còn nô lệ. Không còn biên giới chủng tộc. Không còn nghèo khổ. Không còn tù đầy, tra tấn, thù hận. Loài người sẽ quên hết những bần tiện nhỏ nhặt. Thế giới sẽ có một kỷ nguyên rực rỡ. Mọi người đều là anh em.

James Fisher yêu lý tưởng đó. Chàng muốn mặt trời chiếu cho loài người. Mặt trời độ lượng với loài người, không ở riêng nước Mỹ, ở riêng bất cứ một nơi nào. Chàng muốn hoa nở trên triền núi, cây kết trái giữa sa mạc. Và chàng rung động hồi trống thúc dục tuổi trẻ Mỹ của Kennedy. Hình ảnh Kennedy chập chờn trước mắt chàng, dẫu Kennedy đã chết. Kennedy chết và được phục sinh. Lý tưởng rạng ngời của Kennedy vẫn sống trong tâm hồn những người như James Fisher. Chàng vẫn nghĩ Kennedy là một miếng hồn của tổ quốc Mỹ. Như Washington. Như Lincoln. Như bất cứ những ai đã chết cho nước Mỹ, vì nước Mỹ. Tổ quốc Mỹ của chàng đâu phải chỉ ở riêng Quốc Hội, Bạch Ổc, Ngũ Giác Đài hay phố Wall. Tổ quốc chàng bàng bạc cùng khắp đất nước Mỹ. Nó ở mỗi đầu lá rừng hoang, mỗi ngọn cỏ công viên, mỗi khe núi, mỗi đầu sông, mỗi mạch suốì. Nó ở dưới mồ người chết, trong nhà người sống. Nó ở giọt nước mắt, trên nụ cười. Nó ở nụ hôn đắm đuối, câu nói ân tình. Nó ở tâm hồn người Mỹ. Tổ quốc bảo đi chiến đấu cho tự do, dân chủ của loài người. Tổ quốc gọi James, chàng lên đường. Chàng yêu tổ quốc, chàng phục vụ tổ quốc. James Fisher chỉ biết tổ quốc Mỹ, sống với tổ quốc, chết vì tổ quốc. Chàng không biết gì hơn, không cần biết gì hơn. James Fisher là biểu tượng của một công dân gương mẫu. Chàng không phản kháng tổ quốc, đốì lập với tổ quốc. Tổ quốc vĩnh cửu. Tổ quốc không phản bội con dân và con dân không được phép phản bội tổ quốc. James tham dự chiến tranh, giản dị thế đó. Những âm mưu bẩn thỉu, những tham vọng đốn mạt khác, chàng chẳng thèm tìm hiểu. Bởi lẽ, tổ quốc không ứng cử và tranh cử; không viết chủ thuyết và không vẽ chính sách; không tạo luật lệ ràng buộc con người.

James đã suy nghĩ vậy về điều mà Chi Mai muốn chàng bầy tỏ thái độ với bọn đầu não chiến tranh. Chàng tham dự chiến tranh không do bọn đầu não chiến tranh xúi dục. Chàng tình nguyện. Chàng làm bổn phận của chàng đối với tổ quốc chàng. Người ta không thể có thái độ với tổ quốc. Dẫu chàng đã quằn quại thể xác, mòn vẹt tinh thần ròng rã tám năm trong cái cachots cộng sản; dẫu nước Mỹ đã thua trận ở Việt Nam; dẫu đã có hòa bình; dẫu đã xẩy ra nhiều đổi thay trên đất Hoa Kỳ và thế giới, chàng vẫn nằm đây là do ý muốn của Thượng đế và tổ quốc của chàng. Không ai bỏ rơi chàng cả, không ai cứu nổi chàng cả, nếu Thượng đế muốn đầy đọa chàng, muốn thử thách chàng, muốn giao sứ mạng cho chàng cứu rỗi một điều gì đó, một người nào đó.

Chàng tìm niềm an ủi vào Thượng đế. Chàng gửi lòng chàng vào Thượng đế. Chàng bay bổng. Chàng lẩn trong Cựu ước và Tân ước. Ý nghĩ được Thượng đế thử thách để giao sứ mạng cứu rỗi một điều gì đó, một người nào đó khiến chàng sảng khoái. Tự nhiên, James thấy một vệt sáng hiện lên trong bóng tốì. Chàng giật mình. Chàng đã bỏ cửa hẹp mở cửa rộng. “Cửa rộng và đường lớn dẫn đến sự hư hỏng.” Không, James không hề mở cửa rộng. Chàng bị Chi Mai đưa vào cửa rộng. Ngót tám năm chịu đựng thống khổ, James đâu có mệt mỏi, phờ phạc, suy nghĩ nát óc và buồn bã đến phải khóc. Mới chưa đầy một tháng, được uống Coca Cola, hút Winston, uống rượu, ăn thịt, thưởng thức cà phê, trái cây, James đã hư hỏng. Tâm hồn chàng đã nao núng nhiều phen. Chàng đã có những hạt bụi ngờ vực trong niềm tin. James lại muốn trở lại những cachots khốn nạn mà sự tăm tốì của thù hận sẽ là ánh sáng soi lốì chàng đi đúng con đường Thượng đế kỳ vọng.

James Fisher cảm giác bình yên. Thượng đế vẫn đoái hoài chàng. Thượng đế không bỏ rơi chàng. Nhằm đúng lúc chàng thơ thới nhất, người ta mở cửa phòng đem vào cho chàng một cái phong bì dán kín. James bóc vội ra. Đó là bức ảnh gia đình chàng. James rưng rưng ngắm bức ảnh kỷ niệm. Tay chàng run rẩy. Bức ảnh chụp thời niên thiếu. Chàng đứng giữa cha mẹ. Cạnh chàng là hai đứa em gái. James Fisher cười thật hồn nhiên trong ảnh. Bây giờ, nước mắt chàng ứa ra. Chàng đưa tấm ảnh sát môi, hôn cha, hôn mẹ, hôn hai em. Dĩ vãng theo những giọt nước mắt rơi rụng thành những cái bong bóng lung linh mầu sắc. Từng cái bong bóng vỡ, từng thớ tim James nứt rạn. Sự bình yên vừa tìm thấy đã náo động, xôn xao. Chàng bỗng tiếc thương đời và nhớ gia đình ghê gớm. Hình tưởng nỗi mong đợi vô vọng của mẹ, sự héo hắt niềm tin của cha, vẻ ngơ ngác tội nghiệp của hai em, James lẩm bẩm: “Tại sao mình phải nằm đây mãi?” Tuổi trẻ của chàng đã bị hủy diệt trong chiến tranh và tù ngục. James đã mơ ước thật nhiều sau ngày hết hạn quân dịch. Chàng sẽ cưới ngay Susan McCareen. Chàng muốn có hai đứa con trai thôi. James sẽ kiếm việc làm gần nhà cha mẹ. Vợ chồng chàng sẽ dành dụm tiền bạc để vài năm một lần du lịch Âu Châu. James thèm thăm viếng Paris, Rome, Amsterdam, Londres. Chàng mê Paris nhất.

Chẳng còn chi nữa. Mơ ước của James vỡ tan, biến dạng như những cái bong bóng mơ hồ theo những giọt nước mắt rơi rụng. Ở đời, ít khi, người ta đạt nổi những mơ ước bình dị. James nhét tấm ảnh vào phong bì, cất dưới gốì. Chàng buột miệng hát: Que sera, sera. Whatever will be, will be. The future’s not ours to see. Que sera, sera. What will be, will be…

James tưởng hát an ủi mình thôi. Chàng không ngờ câu hát đã đưa chàng trở lại sự bình yên tâm tưởng. Không ai nhìn rõ tương lai mình, ngay cả ngoài cuộc đời hứa hẹn tràn trề. Nói chi trong ngục tù tối tăm, vô vọng. Thôi, ngày mai để cho ngày mai lo, Chúa Jesus đã dạy. Con người đã bất lực cả sự chuẩn bị một ngày mai. James hoàn toàn tự tin. Anh lại làm cuộc chiến đấu mới để khỏi bị nao núng, khỏi bị hư hỏng trên con đường rộng.

—> 7

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s