Mai Trung: DUYÊN ANH – CÁNH CỬA MỚI CỦA VĂN CHƯƠNG VIỆT NGỮ

maitrung_da_canhcua

Nước Việt Nam, kể đi từ vua Hùng Vương lập quốc, có những mốc tiên khởi đánh dấu công cuộc tranh đấu cho độc lập và sinh tồn không thể lầm lẫn.

Năm 43, hai phụ nữ Việt Nam, Trưng Trắc và Trưng Nhị đánh mốc đầu tiên cho sự yêu chuộng độc lập, bất khả đồng hóa của giống Lạc Việt, qua việc lãnh đạo toàn dân nổi lên đánh chiếm 65 thành trì, đuổi Thái thú Tô-Định về Tầu.

Năm 1076, Lý Thường Kiệt ghi dấu mốc khác, khi khẳng định một cách không dời đổi nước Nam là Một quốc gia độc lập với quốc dân, với kẻ thù phương Bắc chỉ lăm lăm muốn đồng hóa nước ta, bằng bốn câu thơ :

Nam quốc sơn hà nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

Nhưng, cho dù với hùng khí và sức đề kháng tuyệt vời của dân Việt, nước ta vẫn lệ thuộc vào văn hóa Tầu : Văn học nghệ thuật phỏng theo Trung Hoa và văn chương, chữ viết hoàn toàn bằng Hán tự. Phải đợi đến năm Thiệu Bảo thứ tư, đời vua Trần Nhân Tôn (1282), Hàn Thuyên mới đánh mốc khai phóng văn chương thuần túy Việt Nam qua bài Văn tế cá sấu, viết lần đầu bằng chữ Nôm. Sự khai phóng của Hàn Thuyên phù hợp với tinh thần tự chủ của người Việt, nên sau ông nẩy sinh biết bao nhân tài đẩy văn Nôm lên một tư thế không thể ngờ như Nguyễn Trãi, Ngô Sĩ Liên, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Đào Duy Từ, Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát v.v.. Dẫu vậy, văn chương ta vẫn nặng nề dưới ảnh hưởng văn chương Hán tự. Các tác phẩm của văn nhân Việt Nam vẫn nằm trong quỹ đạo Trung Hoa mà không có bóng dáng một nền văn minh nào khác.

Không kể các điển tích toàn vay mượn từ các tác phẩm Hán tự, chữ Nôm cũng mới chỉ là mô phỏng của chữ Hán, với chút ít thay đổi.

Năm 1651, Alexandre de Rhodes ghi dấu mốc quan trọng khác, với việc biên soạn và ấn loát bộ từ điển đầu tiên bằng chữ quốc ngữ. Cho dù lối phiên âm và cách viết có khác đôi chút với chữ quốc ngữ hiện thời, nhưng đó là lối ký âm tiếng Việt hoàn toàn tách rời Hán tự. Nếu Alexandre đe Rhodes sáng chế một lối viết cho một dân tộc nào khác, có lẽ nó bị lãng quên trong bẽ bàng. Nhưng ở Việt Nam, nó đánh đúng vào sự khao khát độc lập và tự chủ nên được toàn dân đón nhận và kiện toàn, để chỉ cần ba thế kỷ sau, trong 50 triệu dân Việt chỉ còn một số rất ít có thể đọc được chữ Hán và chữ Nôm cho mục đích nghiên cứu, hoặc dịch thuật.

Trương Vĩnh Ký đã có công mở cánh cửa để Việt Nam đón nhận những tư tưởng, văn học nghệ thuật của các nền văn minh khác trên thế giới, khiến nước ta không chỉ chịu ảnh hưởng độc tôn của Trung Hoa, bằng công trình dịch thuật tư tưởng Tây phương ra chữ quốc ngữ. Ông đã đánh dấu một mốc khác, khi sáng tác và xuất bản lần đầu tiên bằng chữ quốc ngữ một tác phẩm văn chương vào năm 1866, đó là cuốn «Chuyện đời xưa». Việc làm của Trương Vĩnh Ký được nối tiếp và khởi rộng thành trăm lối ngàn ngành bởi Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Tản Đà, Nhất Linh cùng trăm ngàn văn sĩ, thi sĩ, nhạc sĩ, ký giả, học giả tiền chiến và đương thời cả Bắc lẫn Nam, để chỉ với 100 năm sáng tác, số lượng ấn phẩm của ta không thua kém bất cứ nuớc nào. Dẫu sao văn chương Việt ngữ vẫn còn nằm ở lãnh vực quốc gia. Ta phải cần một con kình ngư có mãnh lực thóat sông rạch, đưa Việt ngữ vùng vẫy chốn biển khơi bát ngát.

Con kình ngư đó chúng ta đã có : DUYÊN ANH.

bia_unrusseasgjpgVà năm 1986, Duyên Anh đánh một mốc mới bằng cách mở cánh cửa cho văn chương Viêt ngữ ra thế giới với việc cho phép nhà xuất bản Belfond – một trong ba nhà xuất bản tiểu thuyết văn chương lớn nhất Paris – phiên dịch và xuất bản cuốn “Một người Nga ở Sàigòn” (“Un Russe à Saigon”, Belfond, Paris,1986) được viết bằng Việt văn ra Pháp văn (bản nguyên thủy Việt ngữ do Nam Á, Paris xuất bản).

Chúng ta không thể nhìn sự việc này một cách hời hợt, nếu chúng ta hiểu được sự kiêu hãnh thống trị của hai ngôn ngữ Anh, Pháp. Không có việc dịch ra Anh hoặc Pháp ngữ các tác phẩm tiểu thuyết văn chương đương thời, tác giả còn sống, từ một ngôn ngữ thứ ba, trừ một ít ngoại lệ dành cho các tác phẩm đoạt giải Nobel, hoăc các danh tác không thể chối cãi của Tagore (Ấn độ), Boris Pasternak, Cholokov, Soljennitsyne (Nga sô), Alberto Moravia (Ý đại lợi), Eric Maria Remarque, Heinrich Boell , Hermann Hess (Đức),Watanabé (Nhật Bản) v.v.. Các tác giả có vẻ như thái sơn bắc đẩu đối với dân tộc Trung Hoa và cả một phần dân Việt như Lương Khải Siêu, Lâm Ngữ Đường, Lỗ Tấn không hề được các nhà xuất bản lớn Anh, Pháp ngữ tìm dịch.

Hẳn có nhiều ấn phẩm có tính cách khảo cứu, chính trị, khoa học, kỹ thuật của các ngôn ngữ khác đã được dịch ra Anh văn hoặc Pháp văn do chính tác giả tự xuất bản lấy tiếng, hoặc được các nhà xuất bản đại học, hội đòan, đảng phái, giáo hội in ra và phát hành với số lượng ít khi lên tới 5000 cuốn, vì thế nó không hề được chấp nhận như một tác phẩm có giá trị văn chương quốc tế.

Cũng không thiếu những tác phẩm “best seller” được phát hành hàng trăm, năm trăm ngàn cuốn, sau đó được dịch ra chục thứ tiếng khác nhau do các tác giả từ các quốc gia không nói tiếng Anh hoặc tiếng Pháp sáng tác. Nhưng đáng buồn thay nó bắt buộc phải viết nguyên thủy bằng Anh hoặc Pháp văn, để được các nhà xuất bản lớn ở New-York, Londres hoặc Paris xuất bản, và ta phải coi đó như những tác phẩm Anh văn hoặc Pháp văn. Đó là trường hợp của C. V.Ghorghiu (Lỗ Ma Ni), Han Suyn (Trung Hoa), Chou Ching Lee ( Trung Hoa) v.v…

Trở lại tác giả và tác phẩm Việt Nam, từ lâu ta đã thấy nhiều bản dịch Pháp ngữ, và gần đây bản dịch Anh ngữ cuốn Truyện Thúy Kiều của đại văn hào Nguyễn Du, nhưng đều do các nhà xuất bản đại học ấn hành cho mục đích tìm hiểu văn chương Việt Nam. Vài tác phẩm cổ điển khác cũng nằm trong số phận đó. Nhiều tác giả Việt Nam đã có tác phẩm bằng Pháp ngữ, hoặc Anh ngữ như Pétrus Ký, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Phạm Duy Khiêm, Hoàng Xuân Hản, Hoàng Xuân Nhị, Trần Đức Thảo, Nguyên Tiến Lãng, Nguyễn Khắc Viện, Nguyễn Đình Thi, Trân Minh Tiết, Pierre Lê Ốc Mạch, Lê Thành Khôi v.v… hoặc mới đây Lucien Trọng, Võ Văn Ái, Đoàn văn Toại, Trần Văn Đôn, Trương Như Tảng, Hoàng đế Bảo Đại, Thái Quang Trung, Nguyễn Ngọc Ngạn, Huỳnh Sanh Thông, Vũ Ngự Chiêu (Nguyên Vũ) v.v…cho xuất bản tác phẩm của họ. Song đó là những tập hồi ký, tài liệu, nghiên cứu và đều có mẩu số chung là phải viết nguyên thủy bằng Pháp hoặc Anh văn, do chính mình hoặc hợp tác với một văn sĩ bản xứ. Chắc chắn các tác phẩm đó không được dịch ra từ một áng văn Việt Ngữ.

Do đó, tôi không sợ lộng ngôn khi nói Duyên Anh với «Một người Nga ở Sàigòn» là một tiền lệ cho Văn chương Việt Ngữ. Bằng tài năng, tận dụng sự chính xác và bóng bẩy của Việt văn, Duyên Anh đã khiến một nhà xuất bản tiểu thuyết văn chương lớn, với số lượng ấn hành quảng đại quần chúng ở Paris phải dịch ra Pháp ngữ tác phẩm của mình, và sau đó, theo tôi nghĩ, sẽ còn được dịch ra nhiều ngôn ngữ khác nữa.

Còn gì mong hơn, tiếp theo Duyên Anh, còn những con kình ngư khác, sóng vai hoặc vượt xa, buộc thế giới chấp nhận thực thể sáng chói của văn chương Việt ngữ. Để từ đó, chắc không lâu chúng ta sẽ được đọc những tác phẩm Việt văn đoạt giải Nobel.

Dẫu sao ta vẫn phải vinh danh kẻ đầu tiên đã có công mở cánh cửa mới cho văn chương Việt ngữ: đó là Duyên Anh.

Paris, ngày 15-7-1986
MAI TRUNG
Nhà xuất bản Nam Á

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s