MỘT NGƯỜI NGA Ở SÀIGÒN: 1…5

2

Một chút gì về tôi, nếu anh muốn biết. Tên tôi là Quỳnh Đào, họ Nguyễn. Bạn tôi thường nói rằng tôi có cái tên hay nhất, lạ nhất. Tên Quỳnh Đào hay lắm.. Nhưng cô Quỳnh Đào thì bướng bỉnh, lì lợm, khó tính, chỉ thích làm theo ý mình, có lẽ cô ta thông minh, học giỏi. Thông minh và học giỏi là cứu cánh, đồng thời, cũng là tai họa của đời tôi. Thầy tướng bảo những người con gái học giỏi, thông minh thường hay lấy chồng muộn và, đôi khi, ế chồng. Đó là luật bù trừ của Thượng Đế.

Tôi lớn khôn cùng với những tiếng hò hét dục giã xuống đường của bạn bè đồng lứa tuổi. Chúng tôi phản kháng chế độ độc tài và đòi hỏi tự do tuyệt đối, dân chủ tuyệt đối. Ngây thơ và nhiệt tình, chúng tôi thả niềm tin yêu chạy khắp đường phố Sàigòn thách thức khói lựu đan cay và báng súng của chủ nghĩa cần lao nhân vị. Tôi đã nhìn rõ máu chảy, ngửi căng phổi mùi xác chết cháy khét lẹt. Tôi đã thấy tận mắt những họng súng đen ngòm khạc đạn vào chúng tôi tay không. Tôi đã vào tù. Nhưng cách mạng thành công! Tôi hò hét. Tôi say mê. Và tôi tiếp tục hò hét, say mê; tiếp tục hứng báng súng, ngửi khói lựu đạn cay và xác chết cháy mãi đến năm 25 tuổi mới thật sự trưởng thành. Để nhận thức rằng, ròng rã mười năm, tôi đã tham dư những cuộc chiến đấu trong hư ảo. Dân tộc tôi đã bị người Mỹ bỏ bùa mê thuốc lú, đã bị xúi dại giết chết lãnh tụ của mình. Cả một nửa dân tộc tự hào có bốn nghìn năm văn hiến đã trở thành bầy múa rối, bọn sát nhân gớm ghiếc cho cái tham vọng, cái thủ thuật đê tiện của người Mỹ. Tôi đã nhúng tay vào máu của lãnh tụ mình. Và người Mỹ đã có, ở miền Nam, một lũ bù nhìn khốn kiếp chỉ biết tiền và gái. Tai họa khủng khiếp và triền miên giáng xuống miền Nam từ khi quân Mỹ tự do đổ bộ lên bãi biển Đà Nẵng hàng hàng lớp lớp. Chiến tranh bỉ ổi thật sự lan rộng. Chính nghĩa về phía Cộng sản gian manh. Người Việt Nam thay phiên nhau chết. Và người Việt Nam anh dũng chết ở chiến trường vì lý tưỏng tự do, dân chủ, vì sứ mạng “tiền đồn chống cộng sản tại Đông Nam Á” thì bị thế giới tiến bộ xa xả quy tội hiếu chiến! Người ta thiết lập cả những tòa án hòa bình để lên án những người bảo vệ tự do. Cái miệng của thế giới quả là có gang có thép!

Tôi ngồi ở trường Luật nhìn từng vết đau rỉ máu trên thân thể quê hương tôi. Ôi, những hòa ước bất bình đẳng, bất thành văn của thời đại tôi còn phũ phàng hơn cả những hòa ước bất bình đẳng thành văn của tổ tiên tôi. Người Mỹ bình thản giết người Việt Nam, ở thành phố, bằng những bánh xe. Người Việt Nam có bổn phận chết và chỉ được xin bồi thường khoản tiền đủ chôn xác chết! Người Mỹ dùng đô la làm đảo tung xã hội Việt Nam đạo nghĩa. Người Mỹ cướp vợ của người Việt Nam. Người Mỹ tạo dựng ở các thành phố Việt Nam một giai cấp giá trị mới gồm toàn những tên lưu manh, du thủ du thực. Người Mỹ điếm đàng, trịch thượng. Khi đã hoàn thành xong sứ mạng biến trí thức Việt Nam thành bọn «for rent», bọn thông ngôn quyền qúy, đẩy thanh niên Việt Nam vào những hoả ngục Hạ Lào, người Mỹ phủi tay y hệt Philâtre. Người Mỹ dung dưỡng tay sai bản xứ gây ra những bất công để nuôi Cộng sản. Và, cuối cùng, người Mỹ mời mọc Cộng sản chiếm miền Nam. Chỉ cần là một người Việt Nam có chút tâm hồn thôi, cũng đủ oán ghét cái chính sách ngang ngược, tráo trở, trịch thượng của người Mỹ. Tôi tự nhận là người Việt Nam còn chút liêm sỉ. Tôi đã suy nghĩ nhiều về người Mỹ. Tôi hiểu dân tộc Mỹ không bao giờ là chính sách của chính phủ Mỹ quản chế các dân tộc chậm tiến mà họ viện trợ, họ cố vấn lãnh đạo. Có lẽ, dân tôc Mỹ rất thờ ơ với chính sách của chính phủ họ. Họ khoán trắng tiền nộp thuế cho chính phủ họ thao túng các nước nhỏ bé. Dân tộc Mỹ chỉ biết thu hẹp qũy đạo sống của họ ở nước Mỹ và bị nô lệ tinh thần tuyệt đối. Họ tin răm rắp những gì báo chí sách vở Mỹ viết về nước tôi. Mà báo chí Mỹ, đa số đã bôi bẩn dân tộc tôi, đã thần thánh hóa Cộng sản. Người Mỹ không phải là chính sách vắt bò sữa nước nhỏ của nước Mỹ. Đồng ý. Nhưng dân tộc Việt Nam cũng không phải là những thằng ăn cắp tiền viện trợ Mỹ.

Như anh đã rõ, tôi vốn bướng bỉnh và lì lợm, vốn không thích sống trong một khuôn phép nào. Vì thế đáng lẽ vâng lời cha tôi, xin tập sự ở văn phòng một vị luật sư, tôi đã ngồi ì lại trường Luật. Tôi muốn học thật giỏi để đủ kiến thức viết một pho sách nói hết những lỗi lầm của chính sách Mỹ ở nước tôi. Chẳng biết tôi có hiểu sai ý nghĩ của đạo diễn phim Soudain, l’été dernier thực hiện theo kịch bản của Tennessee Williams không. Phim này, tôi thích đoạn công tử Mỹ bị thủ tiêu ở bãi biển Tây Ban Nha. Hàng năm, cứ vào mùa hè, công tử Mỹ đều đi nghỉ mát ở Âu châu. Bất ngờ, mùa hè năm ấy, công tử sang Tây Ban Nha. Và, đúng thông lệ, chàng lại làm một bài thơ vớ vẩn. Nhưng khác hẳn thông lệ, trên bãi biển nên thơ và hiu quạnh của Tây Ban Nha, khi công tử Mỹ đang tìm vần, nghĩ tứ thì bỗng xuất hiện cơ man những người đói rách. Bọn vô sản này cọ lon đồ hộp đã mài sắc nghe rờn rợn. Chúng thản nhiên vây quanh công tử Mỹ, tiến sát chàng. Công tử Mỹ sợ hãi tột độ. Chàng cầu cứu. Vô vọng. Chàng xin tha. Vô vọng. Rốt cuộc, công tử Mỹ không còn dấu tích một lóng xương trên bãi cát. Người Mỹ cứ sống ích kỷ đi, cứ cậy giầu sang tung tiền mua vui khoảnh khắc đi, cứ mỗi năm làm một bài thơ tình vớ vẩn đi, cứ trịch thượng và bất cần nhân loại đi, sẽ có ngày chết trong cô đơn. Tôi sẽ nói với dân tộc Mỹ đề tài này.

Nhưng tôi học chưa đến nơi đến chốn thì người Mỹ cuốn gói khỏi Việt Nam và khoác hào quang chiến thắng vĩ đại lên cổ người Cộng sản. Người Mỹ khoái trò chơi đổi đồn. Họ mất công hất chân người Pháp, hất luôn ảnh hưởng văn hóa, chính trị, kinh tế của người Pháp ở Việt Nam rồi hốt hoảng bỏ chạy. Ngày 28 tháng 4 năm 1975, tôi dạo quanh Tòa Đại sứ Mỹ xem người Việt chạy theo người Mỹ. Trên một miếng trời Sàigòn, trực thăng Mỹ lên, xuống. Sân bay là nóc Tòa Đại sứ. Thủy quân lục chiến Mỹ canh cổng và chung quanh căn nhà của quyền uy nước Mỹ tại Việt Nam. Cái quyền uy ấy, lúc này, đang rời rã. Nó giống con cá ươn. Lính Mỹ tay trần, mặc áo giáp, kè kè khẩu M16 gắn lưỡi lê. Họ đã hết sứ mạng diệt Cộng sản. Sứ mạng mới của họ là dùng súng, dùng chân gạt và đạp những người Việt Nam đồng minh của họ, những ông tướng, ông tá, những ông dân biểu, nghị sĩ và bọn cầy cáo tay sai. Tôi vừa phẫn nộ hành động vũ phu của lính Mỹ vừa xấu hổ thái độ chạy trốn hèn mạt của cái lũ người đã từng hò hét, từng lên án những ai đào ngũ, những ai làm nhục quốc thể. Cha tôi quyết định không di tản là đúng. Ông nói với tôi rằng cảnh di tản ở Tòa Đại sứ Mỹ nhục nhã thế nào thì cảnh di tản ở sân bay Tân Sơn Nhất thế ấy… Nhiều ông nghị sĩ, dân biểu, tướng lãnh phải nhờ vả me Mỹ mới lên được máy bay! Người Mỹ mang rác rến vào nước Mỹ rồi người Mỹ lại than phiền rác rến trôi giạt từ bên kia Thái Bình Dương.

Tôi bỏ con cá ươn – nó trổ mùi thối và rữa nát hai hôm sau – về nhà nằm khóc. Giá tôi biết uống rượu nhỉ? Tôi lại chẳng có người yêu để hiến dâng anh ta thể xác và linh hồn tôi. Ôi, sự thông minh, học giỏi và kênh kiệu của tôi đã biến tôi thành cô gái lỡ thì, thứ gái già vô duyên, ưa lý sự. Mà tôi đâu có xấu. Tôi chưa yêu ai nên chưa hiểu cái thú thất tình, sự thất tình giữa một người với một người, chắc chắn, nó không thể chua xót bằng sự thất tình của con người với thời đại nó. Tôi là kẻ thất tình với thời đại của tôi. Anh hiểu chứ? Tôi đau đớn lắm. Tôi mất cơ hội để phân trẩn với nhân loại rằng dân tộc tôi hiếu hòa, dân tộc tôi cao thượng, dân tộc tôi tình cảm sũng ướt và lãng mạn tuyệt vời. Anh có biết chiến tranh từ đâu tới nước tôi không? Đó là sự phân hóa của một tư tưởng chết. Chúng nó có ba đứa, cùng chung một mẹ văn minh. Thằng đầu lòng tên Thực Dân. Nó khai hoá chúng tôi bằng súng đân. Thắng thứ hai tên Tư Bản. Nó thấy anh nó khấm khá, nó hất chân anh nó, truyền bá tự do, dân chủ cho chúng tôi. Bằng súng đạn. Dĩ nhiên.Thằng thứ ba sinh sau đẻ muộn và nghèo nàn. Tên nó là Cộng Sản. Nó giải phóng chúng tôi bằng súng đạn. Đấy, chiến tranh đấy, chiến tranh ở những nước da mầu đấy. Anh chịu khó suy nghĩ và công bình phán xét đi, có phải chúng tôi làm ra chiến tranh không nào?

Tôi đã cố gắng vuốt ve tôi rằng, hãy sống đi, mặt trời chiếu mọi người, ai cũng có chỗ đứng trên trái đất. Nhưng, anh ạ, mặt tròi đã bị cấm chiếu cho những người như tôi ở vùng Cộng sản ngự trị. Tôi không còn chỗ đứng. Thậm chí không còn tổ quốc để yêu, không còn kỷ niệm để nhớ, không còn dĩ vãng để ngậm ngùi, không còn tương lai để mơ ước. Tôi bị đày đọa lưu đày ngay trên quê hương của tôi. Tất cả đều xa lạ. Tôi không thích làm kẻ xa lạ với thời đại của tôi, không thích an phận đóng vai chứng nhân tự dối gạt lòng mình và dối gạt thiên hạ. Vậy thì phải dấn thân thôi. Những người bạn năm xưa của tôi lác đác đó đây. Chúng tôi gặp nhau cúi đầu và cảm thấm nỗi thất thời, thất thế của cổ nhân. Rồi chúng tôi ngẩng mặt. Nhiệt tình thuở mười lăm vụt cháy. Chúng tôi xuống thuyền một cách lãng mạn. Chúng tôi chống Cộng sản không cần người Mỹ. Chúng tôi thật sự chống Cộng sản trong cô đơn. Và chúng tôi vào tù. Tôi đã lếch thếch qua trại giam này đến trại giam khác. Nhan sắc tôi tàn phai thảm hại nhưng tâm hồn tôi phơi phới. Anh biết không, con gái khi cần phải chịu đựng khổ cực thì chịu đựng dai dẳng và quyết liệt hơn con trai. Chỉ buồn nỗi mau già nua. Tôi đã bị còng chân năm mươi hai ngày liên tiếp và bị nhốt vào cachot tối tăm, hôi hám. Tôi đã đói, đã khát, đã thèm được ngủ với đàn ông, thèm ra riết. Tôi có cảm giác hàng ngàn loài hoa qúy nở trong trái tim tôi não nề, trong bộ óc không tài nào tẩy xóa. Tôi có thể nhìn xa vô cùng và, hình như tôi đã thấy hư vô, đã thấy ý nghĩa cao cả của đời sống.

Điều đó khiến tôi hết sợ chết, dù chết mỏi mòn. Nếu tôi đã sống vô vị từ bao nhiêu năm nay, nếu tôi chưa biết bắt đầu cuộc sống của tôi ở chỗ nào thì bây giờ đã biết. Cuộc đời tôi bắt đầu từ nhà tù Cộng sản.

Ròng rã mấy năm, người ta cấm tôi thư từ liên lạc với gia đình. Tôi sống rất thiếu thốn và dơ bẩn. Tôi bị ghẻ lở và kiết lỵ. Khổ nhất là không có serviettes hygiéniques. Và Thượng Đế sinh ra đàn bà...và bắt đàn bà chịu đựng hình phạt mỗi tháng và bắt Cộng sản mù lòa chuyện phạt đàn bà mỗi tháng của Thượng Đế! Tính kỹ, tôi đã quen biết ba nhà tù ở “thành phố Hồ Chí Minh” và hai trại tập trung cải tạo. Tháng 4 năm 1979, người ta thả tôi. Tôi bị bắt đầu tháng 9 năm 1975. Tôi trở về, căn nhà thân yêu của tôi đã thành trụ sở của công an phường. Lý do: Gia đình tôi vượt biên cuối năm 1976. Tôi bàng hoàng giây lát rồi bỏ đi đến nhà người họ hàng. Tôi được biết gia đình tôi vượt biên và không gặp may mắn. Thế là tôi mất hết. Thời đại chi tàn nhẫn quá thế. Tôi hoàn toàn cô độc dưới vùng trời phiền muộn của quê hương tôi. Không có biển máu ở Việt Nam, chỉ có đại dương nước mắt. Và hàng triệu con người đã và đang ngụp lặn chới với giữa cái đại dương thảm khốc đó; đã sặc sụa, đã kêu cứu và đã chết dưới lòng đại dương chuẩn bị sẵn sàng đó. Và người Mỹ bảo lịch sử đã sang trang. Người Mỹ bẩm sinh lạnh lùng và coi thường cái chết của thiên hạ. Người Nga còn lạnh lùng hơn. Họ thích sưu tầm các kiểu chết, các cách chết. Biển máu tuy ghê gớm thật đấy nhưng con người được chết mau có chậm cũng chỉ một tuần thôi. Biển nước mắt thì phải nhân lên mười lần ghê gớm. Nhưng lịch sử đã sang trang, lịch sử chó đẻ đã sang trang. Và tôi tự hỏi mình có mặt ở trang nào trong những trang lịch sử buồn tủi của nước Mỹ không bao giờ thua trận.

Tôi đã nói với anh rồi, cuộc đời tôi đã bắt đầu từ nhà tù Cộng sản. Mọi sự đều bắt đầu. Cha mẹ tôi gởi lại cho tôi chút ít tiền bạc. Tôi không dùng tới. Tôi dạy Anh văn những người chuẩn bị vượt biên để mưu sinh. Người ta rủ tôi vượt biên. Tôi khước từ. Rõ ràng tôi là đứa con gái bướng bỉnh. Đứa con gái ấy sống không cần hộ khẩu, bất chấp luật lệ của chế độ mới. Chẳng có gì lạ cả. Nó đã bị đánh dấu phản động và bị vùi dập trong ngục tù. Nó hoàn toàn mất cảm giác sợ hãi. Nó đi đây đi đó. Lên rừng. Xuống biển. Nó tuyệt đối tự do trong cái xã hội tự do là xa xỉ phẩm, là hàng quốc cấm. Bởi vì ngục tù dạy nó biết ngẩng mặt. Cám ơn Cộng sản một chút. Nhờ Cộng sản mà tôi hiểu chính xác thế nào là thương yêu và thế nào là thù hận; thế nào là hạnh phúc, thế nào là đau khổ. Tôi hiểu tôi có sức chịu đựng vô hạn và khinh thường vật chất. Tôi tự hào tôi đã bước xuống đáy cuộc đời. Cũng nên cám ơn người Mỹ đôi lời, dù lịch sử đã sang trang và dù những cái còng họ viện trợ cho Việt Nam, để, trước và sau người Việt Nam còng tay, còng chân người Việt Nam, vẫn chưa di tản.

Thế đấy, một chút về tôi. Anh cần tôi nhắc lại không ? Tên tôi là Quỳnh Đào, 32 tuổi, gái già, hai lần tội tù và một đời hiu quanh.

—> 3

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s