MỘT NGƯỜI NGA Ở SÀIGÒN: 1…5

5

Tôi chọn một cái robe thời trang mới nhất của phụ nữ Pháp 1980. Đừng lạ tại sao Sàigòn vẫn theo kịp mode ăn diện của Tây phương. Có hai thành phố trong một thành phố: Thành phố Sàigòn và thành phố Hồ Chí Minh. Sàigòn là thành phố của những người có thân nhân di tản, vượt biên và những cán bộ trung cấp thèm hưởng thụ và biết ăn cắp tài sản của nhà nước và ăn hối lộ của nhân dân. Những người có thân nhân ở ngoại quốc, hàng tháng, nhận quà cáp, thuốc men, quần áo. Họ dùng một nửa, bán một nửa. Chợ trời ngập quần áo, son phấn Pháp, Mỹ, Úc, Tân Tây Lan, Nhật, Anh, Na Uy, Đan Mạch, Đức, Ý, Tây Ban Nha, Do Thái, vân vân… Chưa có thời đại nào Sàigòn rực rỡ mầu sắc như thế! Cán bộ hủ hóa, mất phẩm chất và chuyên gia, cố vấn Liên Xô là khách hàng của số hàng hóa thặng dư của những người có thân nhân ở nước ngoài. Sàigòn cũng còn là thành phố của bọn “Việt kiều yêu nước” lâu lâu mò về “yêu nước” để bán tem phiếu mua hàng Imex, áp phe xuất cảnh và xin cho cha mẹ, anh em rời khỏi nước vì cha mẹ, anh em họ không thích …yêu nước.

Ba hạng người trên, áo quần lòe loẹt, mặt mũi toát ra sự thoả mãn tanh tưởi, vênh váo và hỗn xược đi bên cạnh một thành phố Hồ Chí Minh lầm than, nheo nhóc. Có thể mua bất cứ thứ gì, ăn bất cứ món gì, uống bất cứ rượu nào của ngoại quốc, ở Sàigòn, nếu có tiền. Một gói thuốc lá Pall-Mall đốt vô tích sự là một tháng lam lũ cần lao của một người nuôi thêm vài người. Và Sàigòn, mỗi ngày, đốt cả trăm ngàn gói Lucky, 555, Capstan… Nhưng chưa hài lòng, nó vẫn nuôi ảo tưởng hôm nào đó, Mỹ trở lại! Cái thành phố Sàigòn hai mươi nhăm năm ích kỷ, hèn mọn, lừa đảo, bội bạc ấy chỉ làm người ta phẫn nộ và thương xót và cảm phục cái thành phố Hồ Chí Minh mà, trong đó, những con người chấp nhận lao động gian khổ, chấp nhận thiếu thốn vật chất nhưng không chấp nhận chế độ phi nhân, ngày đêm nuôi dưỡng ý chí, bảo vệ tâm hồn để còn được hãnh diện làm người Việt Nam đầy đủ phẩm cách tương lai.

Bà Sáu ngạc nhiên thấy tôi trả lại chiếc robe cho cô gái phòng bên cạnh. Khi đi bãi biển về, tôi nói với bà Sáu rằng tôi được một người Liên Xô mời ăn tối nay. Bà Sáu hoan hỉ bảo tôi: “Cô đi đi, cô phải làm chúng nó ê mặt, cô phải lấy lại danh dự cho người Việt Nam”. Tôi chưa hiểu thâm ý của bà Sáu. Bà giải thích ngay: “Lũ đàn bà Liên Xô ăn mặc luộm thuộm như đám bán cá. Vợ chuyên gia, cố vấn đấy, cô ạ! Nó thấy bây giờ mình nghèo, mình ăn măc xuềnh xoàng, nó lên mặt dễ ghét. Cô nên diện lộng lẫy vào, diện để cho tụi nó nể mặt”. Bà Sáu có đủ thẩm quyền nhận xét về thái độ đối xử và phục sức của người Liên Xô. Nhiều năm phục vụ khách sạn, bà đã tiếp xúc các hạng khách ngoại quốc. Và bà khẳng định “người Pháp vẫn lịch sự, hào hoa”. Tôi nói không có quần áo đẹp. Bà Sáu giới thiệu tôi sang phòng bên cạnh. Tôi đã chọn cái robe màu huyết dụ vừa vặn thân hình tôi. Bà Sáu khen: “Đẹp qúa, đẹp qúa. Cô điểm phấn tô son cho chúng nó ghen tức. Cô mang theo đồ nữ trang không, cô? Tôi sẽ đi mượn. Cầm cái bóp nhỏ cô nhé! À, tôi biết cô có đôi giày rất mốt. Cô đại diện phụ nữ Việt Nam cũ, phụ nữ không thèm mang giép râu đội nón cối”.

Nhưng bà Sáu đã thất vọng vì tôi không thích mode, không thích son phấn, không muốn dẫm những bước chân thô bỉ lên vết thương đang mưng mủ của Sàigòn, của miền Nam, của Việt Nam và của tôi. Tôi nói: “Bà Sáu ạ, muốn làm đại diện phụ nữ Việt Nam cũ, tôi nên mặc áo dài”. Bà Sáu vui gượng. Bà không thể hiểu sâu xa hơn. Tuy nhiên, bà đã là một biểu tượng của người công nhân vô sản chống đối chủ nghĩa vô sản và người của quê hương có cái nôi cộng sản. Những nhà nghiên cứu mác xit sẽ chán nản về bà lắm đấy.

Bẩy giờ rưỡi, tôi đến nhà hàng. Nó nằm ngay cùng tầng tôi ở. Bây giờ, nhà hàng dành riêng cho khách ngoại quốc, không tiếp khách Việt Nam. Muốn dùng bữa ở khách sạn, khách Việt Nam phải xuống tầng dưới và được tiếp đãi rất hững hờ. Dimitri đứng đợi tôi sát cửa nhà hàng như một tên bồi ngày xưa. Anh mặc chiếc quần mầu thẫm, chiếc chemise trắng dài tay gài khuy manchette. Dimitri không biết số phòng của tôi. Mà có tò mò trổ tài KGB, anh ta cũng chả dám gõ cửa phòng tôi. Anh ta sợ tôi lên cơn điên. Dimitri ngây người chiêm ngưỡng tôi. Cách anh ta hai thước, tôi dừng bước. Dimitri đang đóng vai con chiên ngoan đạo và tôi, Đức cha Tổng giám mục. Chỉ cần tôi đưa bàn tay đeo nhẫn thánh ra là Dimitri nhào tới, quỳ xuống, kính cẩn hôn nhẫn. Dimitri ngây ngất trong những giây thiêng liêng nhất của đời anh ta. Vì anh ta rất người nên tôi có quyền nghĩ rằng, từ khi Dimitri hiểu cuộc sống, anh hiểu thêm niềm bí ẩn này: Chỉ khi đứng trước người ta yêu mà ta không biết ta có được yêu không, ta mới rung động tột cùng. Còn đứng trước chân dung Lénine, đứng trước lãnh tụ Brejnev, đứng trước bàn thờ tuyên thệ gia nhập Đảng chỉ là trò chơi, là sự nghiêm trang giả dối. Dimitri vẫn đứng. Không giống kiểu đứng của người gỗ canh xác chết Lénine, anh đứng với trái tim chan chứa tình yêu. Anh đứng trên mảnh đất dằng dặc phiền muộn của quê hương tôi. Để học cách tỏ tình.

– Pavel. -Tôi trách móc.- Anh chỉ biết đứng bất động thôi à?

– Xin lỗi cô Quỳnh Đào, tôi bồi hồi quá.

Dimitri mở cửa phòng. Hơi lạnh ào ra, mát rượi. Tôi bước vào. Dimitri theo sau. Phòng ăn rực rỡ đèn điện. Những người Nga, đàn ông, đàn bà, con nít, ngừng dao nỉa, ngừng nhai thức ăn nhìn tôi như nhìn những món hàng Mỹ, Pháp đắt tiền mà họ không bao giờ đủ tiền mua.

– Bonsoir Mesdames et Messieurs! – Tôi hơi cúi đầu chào họ.

Những người Nga tròn xoe mắt. Rồi cười.

– Họ không hiểu tiếng Pháp. – Dimitri nói.

– Anh thông ngôn giùm. – Tôi ra lệnh.

Dimitri xổ một tràng tiếng Nga. Những người Nga gật gù. Họ không chào lại tôi nhưng vẫn nhìn tôi hau háu. Tôi hiểu tại sao họ nhìn tôi. Chiếc áo dài mầu boóc-đô, thân trước thêu cảnh đám cưới ngày xưa nổi bật những nét độc đáo dân tộc dưới ánh đèn néon. Kiểu áo tay raglan là văn minh cuối cùng của áo dài Việt Nam. Nó bị chấm dứt từ 30 tháng 4 năm 1975. Nó theo lịch sử chiến đấu của Hoa kỳ, sang trang. Bây giờ chỉ còn áo ngắn. Hiếm họa mới gặp con gái Sàigòn mặc áo dài xuống phố. Và những người Nga đã chiêm ngưỡng nó như Dimitri chiêm ngưỡng tôi. Chủ quan mà nói, họ còn chiêm ngưỡng mái tóc buông lơi lả trên vai tôi, khuôn mặt trái soan không cần son phấn và thân hình cân đối mượt mà. Chắc chắn, họ không chú ý đôi mắt bồ câu của tôi đã là diều hâu từ khi tôi nhìn cờ đỏ búa liềm ngạo nghể bay trong gió chướng Việt Nam.

Dimitri dẫn tôi tới bàn ăn mà anh đã dành riêng. Anh kéo ghế mời tôi ngồi. Dimitri lộ rõ vẻ hãnh diện với người đồng hương của anh vì anh có bạn gái Việt Nam đẹp và lịch sự. Tôi ngắm cái lọ cắm hoa pha lê nhỏ duy nhất một bông hồng đặt ở giữa bàn. Và tôi mỉm cười.

– Cô cười gì đó? – Dimitri ngơ ngác hỏi.

– Cười lọ hoa .- Tôi đáp.

– Tôi rất nông dân hả?

– Tôi hâm mộ nông dân vì họ thật thà.

– Vậy tại sao cô cười lọ hoa?

– Nó chỉ có một bông.

– Một bông cho cô.

– Cám ơn. Anh hơi hơi biết tán gái rồi đấy. Lần sau, nếu mời cô gái nào, anh nhớ bảo cắm ba bông nhé!

– Ba bông?

– Tức là anh ba hoa, anh không chân thật.

Dimitri nhìn tôi đắm đuối. Người chiêu đãi ăn uống – danh từ mới thay thế bồi bàn – đã mang tới hai cái ly và chai rượu chát đỏ nhãn hiệu Liên Xô.

– Anh định cho tôi ăn những món gì? – Tôi hỏi.

– Không có menu riêng, cô thông cảm. Chiều nay nhà hàng cho ăn cá. – Dimitri trả lời. – Buổi trưa chúng tôi đi ăn thịt và bây giờ ăn cá.

– Các anh ăn thịt tập thể, ăn cá tập thể luôn. Các anh ăn uống theo chính sách quy định rõ rệt. Nghĩa là các anh không có tự do… ăn. Như chim bồ câu chỉ được ăn lúa, gà ăn ngô, lợn ăn cám. Tội nghiệp anh quá, Pavel. Thôi cá cũng được nhưng đổi rượu chát đi. Ăn cá phải uống vang trắng, nhớ kỹ nhé, nông dân Pavel.

– Tuân lệnh.

Dimitri tuân hành đi đổi rượu. Tôi có dịp quan sát những người Nga đang ăn uống. Bà Sáu, nữ công nhân quét dọn phòng, đã nhận xét không một chút thành kiến nào về phụ nữ Nga. Tôi đã gặp họ ở bãi biển, ở khách sạn, ở đường phố Vũng Tầu, ở Sàigòn. Họ sồ sề, luộm thuộm y hệt những con lợn nái. Để cực tả họ hay dùng văn chương xã hội chủ nghĩa mà tả thì họ giống hệt bọn “mu gích” mà Maxime Gorki thường đề cập trong những truyện ngắn của ông. Người ta sẽ thương xót những “mu gích”, những kẻ khốn nạn dưới chế độ Sa hoàng. Nhưng người ta không thể nào chịu nổi những “mu gích”, sau cuộc đổi đời ở Nga, đã lột xác biến thành phu nhân qúy vị cố vấn, qúy vị chuyên gia Liên Xô và ngạo nghể bước những bước chân dơ dáy của họ lên văn minh Việt Nam. Người Mỹ sang đây đã ngạo nghể lắm. Mà họ không hỗn láo như người Nga. Chưa thấy cố vấn Mỹ nào mặc quần soóc, áo sơ mi ngắn tay, ngực phanh phơi lông lá, đi thăm một cơ sở hay tham dự một buổi lễ lạc. Nhưng đã thấy, thường xuyên, cố vấn Liên Xô chơi trò vừa kể! Họ dám đến cả Trường đại học bách khoa Thủ Đức bằng quân soóc nữa! Và lên bục giảng, đóng góp ý kiến về văn hoá Xô Viết. Những người Nga đang ăn uống kia, biểu tượng vĩ đại của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô Viết, nỗi xót xa khôn cùng của những nước nhỏ trong qũy đạo cộng sản và phải tiếp nhận họ như bậc thầy. Họ ăn nhồm nhoàm, uống ừng ực. Họ không biết chào lại người đã chào họ. Họ vô giáo dục. Họ nhìn tôi như thể họ nhìn miếng bip-tếch thèm thuồng. Cả đàn ông lẫn đàn bà. Tôi hơi lạ lùng ở chỗ tại sao Moscou chỉ xuất cảng sang Việt Nam những mụ Nga béo tròn trùng trục, lùn tì và nhan sắc của họ còn thua nhan sắc đàn ông xấu trai. Đã thế, ở bãi biển, họ thích chơi trò đuổi bắt nhau! Lúc ấy, họ kém nhanh nhẹn hơn cả những con voi đú đởn trong rừng vắng. Và họ mặc bikini! Quả là sự nhục mạ phụ nữ trên thế giới. Những đô vật đàn bà Liên Xô, những dũng sĩ vắt bò sữa, anh hùng hái táo, đương lột vỏ nguyên trái chuối, tống vô miệng đến phồng cả má để… tráng miệng.

Chẳng thấy ai chê người Nga ở Việt Nam. Chỉ thấy lời cay tiếng đắng về người Việt Nam ở ngoại quốc. Rốt cuộc, người ta đều sợ kẻ mạnh. Rốt cuộc, thế giới đều thiên vị và hèn mọn cả mà thôi. Chân lý không còn nữa. Chân lý cất kỹ tại White House và Kremlin, sự công bằng thì chỉ còn tìm thấy định nghĩa trong tự điển. Và lòng yêu thương, cụ thể hơn, tìm thấy trong các cuộc phát chẩn quần áo cũ!

Dimitri đã trở lại. Người chiêu đãi ăn uống cũng đã đem món bouillabaisse ra. Dimitri tự khui chai vang trắng. Anh ta rót vào ly tôi. Chúng tôi nâng ly.

– Chúc sức khoẻ của cô.

– Chúc sức khỏe Pavel và đồng chí Brejnev kính mến!

Dimitri cười. Bữa ăn đãi khách của anh rất giản dị. Tôi hiểu rằng Dimitri đã cố gắng hết sức nên không nỡ “hành” anh ta bày vẽ thêm nhiều thủ tục lỉnh kỉnh. Người Nga ở Sàigòn đáng ghét lắm, nhưng có một điều họ rất đáng thương hại. Họ được báo chí sách vở, đài phát thanh, đài truyền hình tán tụng, nịnh bợ, đọc muốn bẩn mắt, nghe muốn bẩn tai. Nhưng ở các khách sạn, Palace chẳng hạn, Liên Xô vĩ đại bị bạc đãi rõ rệt. Người Nga không được hút Capstan, 555, Lucky… vì khách sạn chỉ bán bằng đô la Mỹ! Người Ba Lan, Hung Gia Lợi, Tiệp Khắc có đô la Mỹ, uống Cognac Pháp, Whisky Anh, hút xì gà Cuba thả giàn. Người Nga cam đành hút thuốc Du lịch Việt Nam và uống Vodka. Nhà nước Xô Viết không phát đô la Mỹ cho họ. Vả lại, đồng lương xa xứ của họ cũng khiêm tốn lắm. Tôi chưa biết Dimitri làm nghề ngỗng gì, lương bao nhiêu. Chắc chắn, cái túi tiền của anh lép kẹp.

– Pavel, anh hùng vô sản!

– Tôi nghe cô.

– Đãi tôi ăn một bữa, anh nhịn mấy bữa?

– Không đến nỗi thế đâu.

– Nói thật đi, anh sẽ nhịn hút thuốc một tháng.

Dimitri dùng khăn lau miệng. Anh nhìn tôi. Đôi mắt anh long lanh một nỗi niềm. Tôi hiểu nỗi niềm ấy.

– Cô đẹp qúa, cô Quỳnh Đào.

– Cám ơn anh. Anh chưa trả lời câu hỏi của tôi.

– Mai tôi mời cô ăn hai bữa rồi tôi nhịn hút thuốc một năm.

– A, nông dân Pavel, anh học câu này ở đâu ? Đảng dạy anh hả?

– Đảng không dạy tôi câu này. Tôi học ở văn chương thế kỷ thứ 19.

– Hèn chi nó cải lương qúa.

Dimitri không hiểu cải lương là gì. Anh ta ngây người ra suy nghĩ. Bữa ăn “đạm bạc” đã xong. Chúng tôi di chuyển tới một cái bàn khác thấp hơn, ngồi uống cà phê. Phòng ăn, bây giờ, thường tiếp chuyên gia dầu khí làm việc ở ngay Vũng Tầu. Số chuyên gia không qúa trăm người. Mỗi cuối tuần, khách ngoại giao đoàn Pháp, Đông Đức, Ba Lan .. ra đây tắm biển. Họ chỉ ngủ một đêm, ăn hai bữa. Do đó, khách sạn chia phòng làm đôi. Nửa ăn uống và nửa cà phê.

Vào giờ này, những người Nga đã rời phòng ăn hết. Còn lại Dimitri và tôi. Và mấy người chiêu đãi ăn uống. Những người này ác cảm với tôi ra mặt. Có lẽ, họ đã nguyền rủa tôi, đã bảo tôi phản quốc, đã khinh miệt tôi thậm tệ. Không có cô gái nào giao du với người Mỹ bị nguyền rủa, bị kết tội phản quốc cả. Mà giao du với người Nga thì, vừa bị dân chúng nhổ nước miếng vừa bị công an làm khó dễ đủ điều. Tôi vốn là đứa con gái bướng bỉnh, bất chấp dư luận (thường thì dư luận đều mù lòa, a dua, ngu ngốc và đặt điều), tôi coi thường tất cả. Tôi có trái tim. Trái tim tôi làm ra sự công bình.

Dimitri bỏ đường và khuấy cà phê cho tôi. Chúng tôi hút thuốc và nói chuyện.

– Tôi sẽ mời anh dùng bữa ở Sàigòn.

– Tôi sẽ sung sướng lắm.

– Sẽ có rượu chát Pommard, sâm banh Veuve Cliquot Ponsardin và pho mát cho anh chọn lựa. Của Pháp hết. Nếu anh thích rượu mạnh, tôi sẽ mời anh uống Cognac.

– Làm sao tôi có thể gặp cô ở Sàigòn?

– Anh phải tìm. Kẻ nào tìm, sẽ thấy.

– Hai tuần nữa tôi mới có dịp về Sàigòn. Tôi sẽ làm việc ở Sàigòn.

– Tốt. Chúng ta sẽ gặp nhau.

– Cô cho tôi địa chỉ.

– Tôi không có địa chỉ. Cộng sản đưa tôi về thời du mục. Anh tin đi, tôi nói thật. Tôi sống không hộ khẩu, không chứng minh thư nhân dân, không tem mua gạo, không phiếu mua chất đốt. Không hiện tại, không tương lai, không dĩ vãng. Tất cả đều thuộc quốc doanh. Tôi thoát khỏi mọi hệ lụy của chế độ. Tôi hoàn toàn tự do. Nếu tôi bảo tôi bị tước đoạt mọi thứ tự do là tôi gian dối. Tôi vẫn nghe đài BBC để được an ủi và nghe đài VOA để muốn đập nát radio. Ôi, tài tử chiếu bóng Reagan chống Cộng đã kéo theo một lô đào ca, kép hát vọng cổ chống Cộng. Nó rẻ tiền và dơ dáng dị hình qua đổi. Anh có nghe đài BBC chương trình tiếng Việt hay tiếng Nga không? Anh cần nghe.

Tôi nói một thôi, Dimitri hoảng hốt. Anh ta sợ tôi lên cơn điên. Tôi đứng dậy.

– Tôi buồn ngủ rồi.

Dimitri cũng đứng dậy. Anh ta chạy sang chiếc bàn chúng tôi vừa ngồi dùng bữa tối. Vẫn còn trên đó một bông hoa hồng. Dimitri ngắt cuống bông hồng ngắn đi và tuốt hết gai. Anh ta trở về chỗ tôi đứng.

– Tôi có được phép gài bông hồng lên áo cô không?

– Tại sao không?

Dimitri gài bông hồng dưới vai bên phải của tôi, chỗ khuy áo. Chúng tôi rời khỏi phòng ăn. Lúc ấy đã qúa 10 giờ. Dimitri đưa tôi về tận phòng của tôi. Cửa phòng mở. Dimitri chống một tay lên bức tường. Hành lang khách sạn vắng vẻ. Ánh đèn hiu hắt. Tôi bước vào.

– Chúc cô ngủ ngon

– Cám ơn Pavel. Chúc anh đêm nay nằm mơ thấy ông Lénine!

Cánh cửa khép lại. Im lặng. Tôi vặn nắm trái đấm ổ khóa, chưa chịu ấn nút an toàn. Một lúc lâu, tôi nghe tiếng đế giày chậm rãi nện xuống sàn hành lang. Tôi mở cửa, thò cổ ra ngoài. Dimitri đã đi được quãng ngắn.

– Dimitri!

Anh ta quay lại.

– Hạnh phúc cho anh vì anh nói giỏi tiếng Việt và còn trái tim.

Và cánh cửa khép lại.

(còn 14 chương)

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s