MỘT NGƯỜI NGA Ở SÀIGÒN: 12…14

14

Bạn nghĩ gì về một người sinh trưởng tại quê hương của nó mà chỉ được phép tạm trú mỗi lần ba tháng? Bạn nghĩ gì về nột người yêu quê hương tha thiết, chưa hề làm điều xấu mà bị quê hương nó khu trừ? Và, cuối cùng, bạn nghĩ gì về một người chống đối tất cả để soi sáng chân lý? Đừng thương hại, tôi không cần. Bạn cảm thông ư? Thành thật cám ơn. Tôi lại có thêm chút bâng khuâng mới.

Căn nhà tôi tạm trú là một ngôi biệt thự cổ thuộc quận I. Con đường mang cái tên nghe đã thú vị: Lê Hữu, sử gia Việt Nam. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, nhiều vĩ nhân, danh nhân, anh hùng dân tộc đã bị đuổi khỏi thành phố, nhường cho cho quý vị anh hùng, liệt sĩ của chủ nghĩa, sử gia Lê văn Hữu thoát cảnh dâu biển dưới mồ. Khu phố vắng, con đường vắng, ít xe cộ và người qua kẻ lại. Vài chục bước, rẽ bên phải, tôi đã thấy Tòa Đại sứ Mỹ, Tòa Đại sứ Anh; rẽ bên trái là đường Hai Bà Trưng, trường Lasan Taberd, nhà thương Grall. Tôi ở sau Trung tâm luật pháp quốc gia xây dang dở. Căn nhà không có lầu nhưng có sân, có ghế đá, có hồ phun nước, có vườn hoa và cây ăn trái. Gia đình đã di tản trước 30-4, còn lại ba người. Ông cụ và bà cụ là cha mẹ, ông bà nội của những người ra di. Họ đã già nên tình quê hương ràng buộc chặt, không thể rời bỏ. Người đàn bà trung niên, đầy tớ trung thành của gia đình, tình nguyện ở lại săn sóc chủ già và trông nom nhà cửa.

Hai cụ già được nghe bạn tôi nói về tôi, đã cảm cảnh ngộ của tôi và vui lòng cho tôi tạm trú. Đời sống của hai cụ rất quạnh hiu, cũng cần thêm người, thêm tiếng cười, tiếng nói, miễn là người mới lương thiện. Cụ bà, khuôn mặt phúc hậu, tính nết dễ dãi, đon đả. Cụ ông, râu dài, tóc bạc, đôi mắt còn sáng quắc trông rất tiên phong đạo cốt. Riêng chuyện gia đình tôi vượt biển bi bắn chìm tàu trong khi tôi còn nằm tù, tôi đã được tiếp đón với chứa chan tình yêu thương, đùm bọc. Cuộc đời vẫn còn người để phần cơm cho những đứa trẻ mồ côi.

Hai cụ cho phép tôi xử dụng căn phòng của cháu gái lớn nhất của hai cụ, đầy đủ tiện nghi: Tủ, giường, bàn phấn, bàn viết… Tất cả còn nguyên vẹn ở ngôi biệt thự này. Ngôi biệt thự không hề mang một dấu vết tang thương nào cùa dâu biển, trừ nỗi quạnh hiu. Cây đàn dương câm kê ở phòng khách, trùm vải màu kín mít. Năm năm rồi, chưa ai mở nắp phím dạo nhạc. Bầy chim của cụ ông treo la liệt trên cành cây vẫn líu lo hót. Đó là niền vui cuối cùng của ông cụ.

Tôi có cảm giác về nhà mình sau nhiêu năm du hoc ngoại quốc. Người đầy tớ tận tình giúp đỡ tôi. Bà ta quấn quýt lấy tôi cơ hồ bà đã quấn quýt cô chủ cũ. Tôi nói thật với hai cụ rằng tôi có người bạn nước ngoài và xin phép hai cụ, thỉnh thoảng, được tiếp người đó tại nhà. Hai cụ vui vẻ chấp thuận, chẳng hỏi ngườí nước ngoài là Nga hay Tiệp, là Ba Lan hay Hung. Nhiều người về già thường bẩn tính, hẹp hòi. Số ít trở nên độ lượng, khoan dung. Hai cụ chủ nhà nằm trong số ít đáng kính trọng dó. Tôi có thể yên tâm sống, không phải đề phòng gì cả. Hai cụ bắt tôi ăn cơm chung ở nhà. Ông cụ nói “Con gái đi ăn cơm tiệm rất bất tiện . Mùa nắng đã vậy, mùa mưa làm sao. Đừng hành hạ cái thân mình, cháu ạ” ! Cụ bà nói “Cháu cứ coi nhà này là nhà cháu đi. Ông bà không lấy tiền nhà, tiền cơm của cháu đâu. Lấy tiền của cháu kỳ chết. Mà chẳng cần tiền. Cháu tới đây làm ông bà vui. Thế đủ rồi.” Người đầy tớ – chị Ba- không để tôi quét dọn phòng, giặt quần áo. Mỗi sáng, chị làm giường, quét dọn phòng, nhà tắm. Tôi thường đi chợ với chị và xuống bếp giúp chị nấu nướng. Hai chúng tôi thật hòa hợp.

Tôi quyết đinh nghỉ dạy học tư gia. Tôi chán gặp cảnh tượng bên ngoài và thiên hạ. Tôi muốn thu đời sống của tôi trong ngôi biệt thự cửa kín tường cao, hiu quạnh và êm ấm này. Cũng có nỗi buồn chứ, nỗi buồn soi mòn thịt xương và gợi tưởng chết chóc. Đã bao giờ bạn ngồi hàng giờ ngắm đôi vợ chồng già nằm dài mỗi người trên ghế đu đưa, hút thuốc, im lặng nhìn vào hư vô chưa? Bạn nghĩ gì? Tôi thấy hoàng hôn của đời sống. Thú thật là tôi sợ hoàng hôn. Nó không báo trước niềm vui đâu. Nó báo trước nỗi đau ray rứt. Nó báo trước chia lìa đòi đoạn. Và vĩnh biệt. Nhưng trong hoàng hôn của đời sống, người ta có thể làm gì khác hơn là nằrn trên ghế xích đu, nhìn vào hư vô, chờ chết. Dẫu sao, theo tôi, còn nỗi sợ hoàng hôn, còn được nằm dài trên ghế xích đu, nhìn vào hư vô, chờ chết là còn hạnh phúc. Hạnh phúc của những người ấm áp, thiện lương, một đời tu nhân tích đức. Những kẻ đày đọa nhân loại, những kẻ sáng tạo chủ nghĩa phi nhân mới là những kẻ bất hạnh. Chúng chẳng bao giờ được nằm dài trên ghế xích đu, hút thuốc, im lặng nhìn vào hư vô. Ánh sáng và bóng tối đều là kẻ thù của chúng. Chúng lẩn trốn tất cả. Chúng chết bất đắc kỳ tử. Rồi chúng vào hòm kính.

Mỗi sáng sớm, tôi dậy tập thể dục với ông cụ. Sau đó, chúng tôi tưới hoa. Rồi cho chim ăn, nghe chim hót. Ổng cụ biết cách dạy chim hót. Ông thường kể đặc tính của mỗi sắc chim và khẩu vị của nó. Âm nhạc chỉ có bảy nốt. Chim chóc có hàng ngàn giọng. Một trăm lồng chim của ông cụ, một trăm giọng hót. Ông cụ nghe con nào hót, đọc ngay tên con đó. Sự thẩm âm của cụ lên tới bậc thượng thừa, không thua gì Sư Khoáng thời Chiến Quốc bên Tàu.

Cụ thích nhất con họa mi “vua của loài chim”. Giọng hót của nó tuyệt diệu, đẫy đà, khí phách như trang hảo hán anh hùng. Cụ bảo giống chim này không có ở Việt Nam. Nó ở nước Tàu, lưu lạc tớí thượng du Bắc Việt. Mỗi con trống hùng cứ môt phương, cai trị giang sơn chim mái. Con trống nào xa lạ tới phải giao đấu một trận sống chết, sống thì làm vua, chết thì làm mồi cho muông thú. Cuộc chiến tranh giành ảnh hưởng thât đẹp. Đàn bà, con nít họa mi không cần đổ máu. Cụ nói về chim chích chòe mới thú. Nếu ta bắt con chích chòe khôn lớn, nhốt nó trong lồng, nó sẽ không chịu hót. Nó tìm cách sổ lồng. Khi tuyệt vọng, nó nhịn ăn uống, tư mổ cổ cho đến khi chết. Tôi lạc vào thế giới chim chóc kỳ ảo của cụ.

Niềrn vui của cụ là sáng sáng tới chợ chim đường Hàm Nghi, kiếm chim mới và diễn tả kiến thức chim của cụ với các tay sành điệu chơi chim. Nghìn đồng con chào mào đít đỏ miền Bắc cụ không bán cho đứa ngu mà tặng tay hiểu biết giọng hót của chào mào. Cụ bận bịu với hoa và chim. Tôi giúp cụ trộn lòng đỏ hột gà với bột đậu xanh rây nhỏ nuôi chim. Những con chim qúy còn được uống nước sâm. Khẩu phần tươi của chim: Ba chú cào cào một ngày. Cụ sống khoáng đạt, không hể bất mãn.. Triết lý của cụ: Khi không thể chơi với người, ta chơi với chim. Tuyệt nhiên, cụ dâú kỹ dĩ vãng. Và tôi không tò mò. Cụ nghiện trà tầu. Ngày hai cử: sáng và tối. Có tôi hầu trà, cụ thích lắm. Cụ không trách tôi hút thuốc lá.. Nói tóm, cụ ghét phán xét mà chỉ thông cảm.

Còn cụ bà thì khoái nhờ tôi đọc lại những bức thư của con cháu bên Pháp gửi về. Cụ cho tôi xem hàng ngàn tấm ảnh ngày xưa. Cụ ưa ngồi cạnh tôi, vuốt tóc tôi và thở dài “Tội nghiệp cháu”. Mỗi lần cụ tội nghiệp tôi, tôi đều rươm rướm nước mắt. Tôi chai đá với nghịch cảnh mà dễ mềm yếu với tình cảm gia đình. Tôi đã xin phép cụ, thỉnh thoảng, được mở nắp cây dương cầm. Và khi tôi đàn, cả hai cụ ngồi nghe say mê. Dĩ vãng và người xa cách được gọi về bằng những âm thanh xao xuyến. Tôi tiếc đã không đàn giỏi như em Mai. Để có thể chơi nhạc Mozart, nhạc Bach. Nhưng thế là đủ. “Cháu đàn mỗi ngày nhé, ông bà nội không phiền cháu đâu”. Câu nói ngọt ngào qua đỗi. Từ đó, tôi sống với ông bà nội của tôi.

– Cháu có định trốn khỏi Việt Nam không, Đào? Ông hỏi tôi.

– Thưa ông, cháu ở đây mãi mãi với ông bà. Tôi đáp.

– Ở đây để chôn ông bà, hả? Ông tôi cười.

– Vâng, cháu sẽ làm làm ma thật lớn. Tôi cười theo.

– Rồi cháu phải có chút việc tiêu khiển chứ?

– Cháu tưới hoa, tỉa cây, nuôi chim.

– Việc gì có tương lai cơ.

– Thưa ông, cháu sẽ viết tiểu thuyết.

– Hay lắm, ông hy vọng cháu sẽ trò thành Colette, Magaret Mitchell, Pearl Buck.

– Cám ơn ông nội.

– Cháu sẽ tuyệt diệu hơn bởi vì chưa nữ văn sĩ nào có đời sống phong phú, từng trải như cháu.

– Cháu ao ước vậy.

– Hãy khỏi sự ngay đi, viết và đừng hỏi bao giờ người đời đọc cháu. Tương lai là anh chàng khó tính, nó chỉ đến với ai can đảm làm việc. Mà cháu định viết cái gì?

– Cháu sẽ viết về sự chiến đấu cô đơn của con người với mọi ràng buộc của chủ nghĩa và thành kiến.

– Đề tài chưa lạ lẩm đâu, cháu ạ!

– Người ta đã viết về con người chiến đấu với thiên nhiên và chiến thắng. Rồi cháu sẽ viết về con người chiến đấu với thù hận và hình phạt của thù hận và sẽ chiến thắng.

– Hay qua. Ông bà nuôi cháu để viết cuốn tiểu thuyết ấy. Nhà văn phải sáng tác ngay trên quê hương mình, ngay trên nỗi khổ, tình yêu và hy vọng của dân tộc mình thì mới dài hơi và tha thiết. Thoát khỏi phạm trù đó, nhà văn hụt hơi, giả tạo. Tiếng nói của họ sẽ chỉ còn là tiếng nói chết.

Ông tôi nói tiếp:

– Ông rất ghét đạo đức, đạo đức giả hay đạo đức thật ông đều ghét thậm tệ. Đạo đức cũng là thứ chủ nghĩa ngu xuẩn. Nó bịa đặt ra giáo điều và bắt con người loay hoay trong giáo điều ngớ ngẩn của nó. Nhà văn, đạo đức của anh đâu? Tôi không cần đạo đức, tôi chỉ cần tác phẩm, tác phẩm hay. Đạo đức không làm ra nhà văn. Nhà văn làm ra đạo đức, nếu ta thich đạo đức.

Ông tôi nói say mê. Giọng ông đầm ấm và quyết liệt.Tôi đã mơ hồ hiểu một chút về dĩ vãng của ông tôi. Và tôi thấy tôi không còn cô độc dưới vùng trời phiền muộn này nữa. Quê hương tôi lúc nào cùng đẹp, cũng tốt vì còn rất nhiều người như ông tôi. Họ âm thầm chịu đựng một cách can đảm mà không lên tiếng phẫn nộ hay rên rỉ. Họ không bỏ xứ sở ra đi. Họ tình nguyện ở lại chia sẻ nỗi tủi nhục với đồng bào. Chính những người đó mới là những người làm cho dân tộc không bị khinh bỉ, làm cho kẻ thù sợ hãi và làm cho tổ quốc tồn tại. Những người không thèm xin hạnh phúc, tương lai định cư ở các trại ti nạn, tôi phải vinh tôn họ.

– Cháu nghĩ sao? – Ông tôi hỏi.

Tôi ôm lấy ông tôi:

– Ông tuyệt diệu.

Tâm hồn tôi đã được ướp tươi lại bằng sự trìu mến của ông bà tôi và bay bổng theo tiếng hót của chào mào, họa mi, chích chòe, vành khuyên, bách thanh… Buổi trưa, nghe chim cu gáy, buổi chiều, nhìn ông bà nằm dài trên ghế xich đu hút thuốc, im lặng nhìn vào hư vô cùng buồn lắm. Nhưng nếu không có nỗi buồn, cuộc đời sẽ hết thơ mộng và ta sẽ không giữ nổi những gì còn lại trong ta, ta sẽ khó mà khôn lớn. Bà tôi đơn giản hơn ông tôi. Bà cho tôi những thứ khác. Mắt bà tôi quá kém, mang kính cũng không đọc rõ. Bà tôi thich ngồi sát bên tôi, vuốt ve tóc tôi, tay tôi, thân thể tôi. Tôi bỗng thấy tôi có hạnh phúc hơn những đứa cháu nội, cháu ngoại đích thực của bà đang ở Paris, Londres, Suisse hay Californie. Tôi là cây leo hạnh phủc hay bà tôi?

– Cháu ạ, nếu cháu lấy chồng, vợ chồng cháu sẽ vẫn ở đây. Ông bà rồi sẽ chết, nhà này thuộc về vợ chồng con cái của cháu.

– Cháu không lấy chồng. Cháu già rồi, chỉ có thể lấy ngoại quốc.

– Chồng nào cũng là chồng. Chồng ngoại quốc nó còn thương mình hơn.

– Bà nội ơi, nếu cháu lấy chồng Nga, bà có ghét cháu không?

– Không. Cháu bà có đứa lấy chồng Anh, có đứa lấy chồng Ba Lan ở Pháp. Cháu đã xem ảnh, quên rồi à ?

– Cháu nhớ nhưng không dám hỏi.

– Ông nội còn dễ hơn. Ông bảo cháu ông đứa nào muốn lấy da đen ông cũng không phản đối.

Đấy, tấm lòng của bà tôi. Khi người ta biết cảm thông thì nước lã cũng là máu đào. Ngược lại, máu đào còn tệ hơn nước lã. Ai dám khinh thị người Việt Nam chân chính? Những kẻ kỳ thị chủng tộc, mầu da hẳn phải suy nghị về tâm lòng cao cả của bà tôi. Tôi hết băn khoăn về Dimitri Chostakovitch. Đây mới chính là nơi để tôi nương náu, để tôi hong vết thương, để tôi yêu và để tôi làm việc. Nơi chốn này, chắc chắn, tôi không tìm ra ở Mỹ, ở Gia Nã Đại, ở Pháp, ở Đan Mạch, ở Đức. Nó chỉ có ở Việt Nam, ở miền đất khổ, cúi xuống nhìn lên rặt những ngậm ngùi.

Không ai nhìn thấy hạnh phúc. Người ta chỉ cảm thấy hạnh phúc. Tôi đã cảm thấy hạnh phúc. Tôi khôn lớn trong nhà tù cộng sản reo rắc thù hận, đau thương. Tôi tự hào là người Việt Nam ở lại. Ngày mai, tôi sẽ nhắn Dimitri lại thărn ông bà tôi, uống trà, nghe chim hót và xem hoa nở.

—>xem tiếp
<—Các chương trước

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s